Bản án 14/2017/HNGĐ-ST ngày 21/09/2017 về ly hôn giữa chị D và anh T

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 14/2017/HNGĐ-ST NGÀY 21/09/2017 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ D VÀ ANH T

Ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 39/2017/TLST- HNGĐ ngày 07/4/2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2017/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đào Thủy D, sinh năm 1990; ĐKHKTT: Khu T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng; trú tại: Khu L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Huy T, sinh năm 1990; ĐKHKTT và chỗ ở: Khu T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 4 nắm 2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơ: Chị Đào Thủy D trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Huy T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận D, thành phố Hải Phòng (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 14/02/2012). Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 3 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cãi vã và xô xát. Khi vợ chồng căng thẳng, anh T có hành vi xúc phạm và không tôn trọng chị. Hai bên gia đình đã nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng không thành. Từ năm 2015, do mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở, vợ chống sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên chị xin ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 24/5/2012. Hiện nay cháu C đang ở với anh T. Khi ly hôn, chị đề nghị giao con cho anh T tiếp tục nuôi, chị có trách nhiệm đóng góp nuôi con với anh T 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của đương sự đề ngày 08/7/2017 và trong quá trình giải quyết, bị đơn Nguyễn Huy T trình bày:

Anh thừa nhận về thời gian, điều kiện kết hôn như chị Đào Thủy D trình bày là đúng. Chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở  từ năm 2015 đến nay, vợ chồng không còn quan hệ với nhau về tình cảm và kinh tế. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn chị D.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C  như chị D trình bày. Khi ly hôn, anh đồng ý nuôi con và đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi con như chị D đề nghị 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa chị Đào Thủy D vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh T, đề nghị giao con

Nguyễn Quỳnh C cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T có mặt cũng đồng ý ly hôn và xin nhận nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận và giao cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận D thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D; về con chung: Giao cháu Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 24/5/2012 cho anh T nuôi dưỡng, chị D có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với anh T 2.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, do hai bên không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về Tố tụng dân sự: Chị Đào Thủy D có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D giải quyết vụ án ly hôn với anh T cư trú tại phường A, quận D, Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn đã được Tòa án nhân dân quận D tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng chị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đào Thủy D.

[2] Về hôn nhân: Chị Đào Thủy D và anh Nguyễn Huy T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2012 theo quy định, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn có nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, có hành vi xúc phạm và không tôn trọng nhau. Cuộc sống giữa vợ chồng ngày càng căng thẳng, không hạnh phúc. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Từ năm 2015 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm tới nhau cả về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị D đề nghị được ly hôn với anh T, quá trình giải quyết anh T cũng đống ý ly hôn. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D.

[3] Về nuôi con chung: Chị D và anh T có một con chung là Nguyễn Quỳnh C, từ khi chị D và anh T sống ly thân, anh T vẫn trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn, chị D đề nghị giao cháu C anh T nuôi, anh T đồng ý tiếp tục nuôi con. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị D tự nguyện đóng góp 2.000.000đồng/tháng, anh T đồng ý với đề nghị của chị D. Hội đồng xét xử xét thấy, cần tiếp tục giao con chung là cháu Nguyễn Quỳnh C cho anh T nuôi dưỡng, chị D có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con với anh T 2.000.000đ/tháng là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị D và anh T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội ban hành Luật phí và lệ phí.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đào Thủy D và anh Nguyễn Huy T.

2.  Về  nuôi  con  chung:  Giao  con  chung  là  Nguyễn  Quỳnh  C,  sinh  ngày 24/5/2012 cho anh Nguyễn Huy T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con với anh T 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng kể từ tháng 10/2017 cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, khi anh T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị D không thi hành khoản tiền cấp dưỡng đã nêu ở trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tại thời điểm thanh toán, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí: Chị Đào Thủy D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị D được trừ số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai số: AA/2010/3643 ngày 7/4/2017 tại C cục thi hành án Dân sự quận D, thành phố Hải Phòng. Chị D còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)

4. Về quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Huy T có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Chị Đào Thủy D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2017/HNGĐ-ST ngày 21/09/2017 về ly hôn giữa chị D và anh T

Số hiệu:14/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Dương Kinh - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:21/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về