Bản án 14/2017/DS-ST ngày 11/08/2017 về tranh chấp hợp đồng giao khoán

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 14/2017/DS-ST NGÀY 11/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

Ngày 11 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2017. Về việc: Tranh chấp hợp đồng giao khoán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2017/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cà phê PA.

(Viết tắt: công ty TNHH MTV cà phê PA)

Địa chỉ trụ sở: Km 26, Quốc lộ 26, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện pháp luật: Ông Hồ Sỹ Tr – chức vụ: Tổng giám đốc Công ty.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Nhị H – Chức vụ: Phụ trách pháp chế (văn bản ủy quyền số 07/GUQTA2017, ngày 15/5/2017) – Có mặt.

- Bị đơn: Ông Bùi Ngọc T.

Địa chỉ: Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

(Ông T đã được cấp, tống đạt, niêm yết hợp lệ thủ tục tố tụng).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/3/2017, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 08/12/2014 ông Bùi Ngọc T ký hợp đồng giao – nhận khoán chăm sóc vườn cây cá phê – cây bơ với công ty TNHH MTV cà phê PA. Theo hợp đồng ông T nhận chăm sóc vườn cây với diện tích 0,78 héc ta với tổng số 849 cây cà phê (trong đó cà phê trồng năm 1995 là 327 cây, trồng năm 1999 là 327 cây cây; trồng năm  2002  là  196  cây).  Thời  gian  giao  nhận  khoán là  06  năm,  kể  từ  ngày 08/12/2014 đến ngày 31/3/2020. Hằng năm công ty đầu tư phân bón theo định mức trong hợp đồng, áp dụng tiến độ khoa học kỹ thuật, thực hiện chương trình cà phê bền vững, tổ chức tưới nước, quyết định các biện pháp quản lý, đầu tư, phòng trừ sâu bệnh… Còn ông T thực hiện việc chăm sóc vườn cây dưới sự kiểm tra, giám sát của công ty. Tổng sản lượng cà phê giao khoán ông T phải nộp cho công ty từng vụ thu hoạch sản phẩm được ghi chi tiết, cụ thể trong hợp đồng giao khoán. Thời gian đầu nhận khoán ông T thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng nhập 100 % sản lượng thu hoạch về công ty và sản lượng cà phê vượt khoán các vụ trước đó của ông T, đã được công ty thực hiện chi trả theo đúng quy định và các bên không có tranh chấp gì.

Việc thu hoạch cà phê trên vườn phải đảm bảo theo đúng hợp đồng và các quy định của công ty, người nhận khoán phải nộp toàn bộ sản lượng cà phê thu hoạch trên vườn cây ngay sau khi thu hoạch. Tuy nhiên, niên vụ cà phê năm 2016 - 2017, ông T đã không thực hiện đúng như cam kết trong hợp đồng giao nhận khoán. Toàn bộ sản phẩm cà phê thu hái trên vườn cây ông T đã tự ý mang về nhà và không nhập về công ty như cam kết trong hợp đồng. Công ty nhiều lần đôn đốc và nhắc nợ nhiều lần nhưng ông T vẫn cố tình vi phạm và có thái độ không hợp tác với công ty.

Sản lượng cà phê niên vụ 2016 - 2017 ông T phải nộp là 6.885 kg cà phê tương (trong đó sản lượng nộp khoán là 6.684 kg, quỹ dự phòng vườn cây là 134 kg, quỹ phúc lợi người nhận khoán là 67kg) ngoài ra ông T phải chịu thêm 78 kg quả cà phê quả tươi là chi phí bảo về năm 2016 - 2017 (theo quy định tại điểm h, mục 3.2.1 điều 5 hợp đồng giao nhận khoán). Đến ngày 26/12/2016 công ty đã quyết định không thu quỹ dự phòng vườn cây và quỹ phúc lợi người nhận khoán nên ông T chỉ còn phải nộp sản lượng là 6.684 kg cà phê quả tươi về công ty. Như vậy, tổng sản lượng cà phê quả tươi ông T phải nộp niên vụ 2016 - 2017 là 6.762kg cà phê quả tươi.

Mặc dù phía công ty đã nhiều lần xuống làm việc yêu cầu ông T phải nộp sản lượng khoán nhiều lần nhưng ông T không nộp và không hợp tác với công ty. Vì vậy, Công ty làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Búk giải quyết buộc ông Bùi Ngọc T phải trả cho công ty là 6.762 kg cà phê quả tươi của niên vụ cà phê năm 2016 - 2017.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu được rút một phần yêu cầu khởi kiện, đối với yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Ngọc T phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết giữa Công ty TNHH MTV cà phê PA với ông Bùi Ngọc T, vì hợp đồng giữa Công ty và ông T đã tuân thủ về hình thức, nội dung là phù hợp quy định tại Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ và Bộ luật dân sự năm 2005 nên đương nhiên ông T phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nên tại phiên tòa phía công ty rút yêu cầu về phần này.

Về phía bị đơn ông Bùi Ngọc T mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần và được giao thông báo, cấp, tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn không tham gia tố tụng, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án không tiến hành hòa giải được.

Ngày 17/7/2017 Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng bị đơn ông Bùi Ngọc T vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn mặc dù đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình trốn tránh không thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ nội dung, quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH MTV cà phê PA yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Bùi Ngọc T phải trả sản lượng cà phê quả tươi của niên vụ năm 2016 - 2017 với số lượng là 6.762 kg cà phê quả tươi là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhị H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án buộc ông T phải tiếp tục thực hiện hợp đồng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần được rút theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Bùi Ngọc T là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là loại việc tranh chấp hợp đồng giao khoán thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 429, điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Krông Búk thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy quy đinh tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Thấy rằng, hợp đồng kinh tế về việc giao – nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK được ký kết vào ngày 08/12/2014 giữa Công ty TNHH MTV cà phê PA với ông Bùi Ngọc T là hợp đồng song vụ có thời hạn, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, việc ký kết hợp đồng đúng đối tượng, đảm bảo các căn cứ giao khoán và nhận khoán, việc lập hợp đồng đúng về hình thức, nội dung đảm bảo quy định pháp luật nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền và nghĩa giữa hai bên, theo đó bên nhận khoán là ông T có nghĩa vụ phải nộp 100% sản phẩm cà phê thu hoạch trên vườn cây cà phê và phải nhập cho Công ty, sau khi nộp đủ sản lượng cà phê của từng vụ theo yêu cầu của công ty thì sản lượng vượt khoán sẽ được Công ty chi trả theo quy định. Từ khi nhận khoán chăm sóc diện tích 0,78 héc ta cà phê, ông T đã nộp đủ 100% sản lượng cà phê quả tươi vụ năm 2014 - 2015 với tổng sản lượng nhập về là 12.841 kg cà phê quả tươi, trong đó sản lượng vượt khoán của ông T là 5.771 kg cà phê quả tươi, công ty đã thực hiện chi trả cho ông T theo quy định; vụ năm 2015 - 2016 với tổng sản lượng nhập về là 16.973,5 kg cà phê quả tươi, trong đó sản lượng vượt khoán vụ này của ông T là 10.089 kg cà phê quả tươi, công ty đã thực hiện chi trả cho ông T theo quy định.

Nhưng vụ cà phê năm 2016 - 2017 ông T đã không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng, toàn bộ sản phẩm cà phê thu hái trên vườn cây ông T đã tự ý mang về nhà, công ty đã đôn đốc, nhắc nhở, lập biên bản về việc ông T thu hái cà phê nhưng không cân nhập cho Công ty. Công ty cũng đã có Thông báo yêu cầu ông T thực hiện nội quy, quy định và hợp đồng giao – nhận khoán; Thông báo về việc yêu cầu ông T giao nộp sản lượng cà phê và các khoản công nợ trong niên vụ năm 2016 - 2017 nhưng ông T vẫn không thực hiện.

Tổng sản lượng cà phê niên vụ năm 2016 - 2017 ông T phải nộp là là 6.885 kg cà phê quả tươi (trong đó sản lượng nộp khoán là 6.684 kg, quỹ dự phòng vườn cây là 134 kg, quỹ phúc lợi người nhận khoán là 67kg) ngoài ra ông T phải chịu thêm 78 kg quả cà phê quả tươi là chi phí bảo về niên vụ năm 2016 - 2017 (theo quy định tại điểm h, mục 3.2.1 điều 5 hợp đồng giao nhận khoán). Ngày 26/12/2016 phía Công ty đã quyết định không thu quỹ dự phòng vườn cây và quỹ phúc lợi người nhận khoán nên ông T chỉ còn phải nộp sản lượng giao khoán là 6.684 kg cà phê quả tươi, cộng với 78 kg cà phê quả tươi là chi phí bảo vệ niên vụ năm 2016 - 2017. Tổng sản lượng cà phê quả tươi ông Thanh phải nộp niên vụ 2016 - 2017 là 6.762kg cà phê quả tươi. Thấy rằng, việc ông T không nộp sản lượng cà phê như trên là vi phạm nghĩa vụ của bên nhận khoán theo hợp đồng giao - nhận khoán đã ký kết gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty TNHH MTV cà phê PA, nên xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV cà phê PA về việc buộc ông Bùi Ngọc T phải trả sản lượng cà phê niên vụ năm 2016 - 2017 với tổng sản lượng 6.762kg kg cà phê quả tươi là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu của Công ty TNHH MTV cà phê PA về việc buộc ông Bùi Ngọc T phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết với Công ty, mặc dù tại đơn khởi kiện, ngày 27 tháng 3 năm 2017  Công ty TNHH MTV cà phê PA đã yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhị H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện này. Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty TNHH MTV cà phê PA về việc buộc ông Bùi Ngọc T phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết với Công ty TNHH MTV cà phê PA; nếu sau này Công ty TNHH MTV cà phê PA khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Công ty TNHH MTV cà phê PA không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

[3] Về án phí: Theo kết quả xác minh, giá cà phê quả tươi theo giá thị trường tại thời điểm xét xử vụ án là 9.900 đồng/kg.

Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật (6.762 kg x 9.900đ x 5% = 3.347.000đ). Hoàn trả tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 412, 414 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ.

Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA.

- Buộc ông Bùi Ngọc T phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA số lượng là 6.762 kg cà phê quả tươi.

- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA về việc buộc ông Bùi Ngọc T phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết với Công ty trách nhiệm hũu hạn một thành viên cà phê PA. Nếu có tranh chấp thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA có quyền khởi kiện lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về án phí:

- Buộc ông Bùi Ngọc T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.347.000đ (Ba triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).

- Hoàn trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA số tiền 1.712.000 đồng (Một triệu bảy trăm mười hai nghìn đồng) tạm ứng án phí do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk theo Biên lai thu tiền số: 0038218 ngày 29/3/2017.

3. Về quyền kháng cáo:

- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị đơn ông Bùi Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


166
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về