Bản án 141/2018/HS-ST ngày 23/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 141/2018/HS-ST NGÀY 23/08/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 8 năm 2018 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2018/TLST-HS ngày 19/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2018/QĐXXST-HS ngày 09/8/2018 đối với bị cáo:

Lê Cẩm T, giới tính: Nam, sinh năm: 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: đường số 8, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Lê Văn D và bà Trần Mai H; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ tên Đỗ Thị Nguyên N; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 – Ngày 06/01/2016 Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”; Nhân thân: 07/11/2008 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị bắt và tạm giam ngày 24/4/2018; (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Cao Quang P, trú tại: phường 03, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

2/ Ông Cao S, trú tại: xã Phước Kiểng, huyện Nhà Bè (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 14 giờ ngày 24/4/2018 tổ Cảnh sát hình sự đặc nhiệm – Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an quận Gò Vấp kết hợp Công an phường 14, quận Gò Vấp bắt quả tang Lê Cẩm T đang tàng trữ 02 (hai) cục chất bột màu trắng đựng trong gói thuốc lá hiệu Camel (Thành khai là Heroin) tại trước nhà phường 14, quận Gò Vấp nên tiến hành thu giữ vật chứng, đưa về phường 14 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Cẩm T đã nhận tội và khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 24/4/2018 T gọi điện thoại cho người bạn làm nghề chạy xe ôm tên Cao S (sinh năm: 1981; nơi cư trú: xã Phước Kiểng, huyện Nhà Bè), kêu S đến chở T đi công việc. S đồng ý chạy xe máy biển số 59E1-814.82 đến chở T, khi S chở T chạy đến khu ngã tư Ga, Quận 12 thì T kêu sang dừng xe đứng đợi để T đi bộ xuống gặp người bạn tên C (chưa rõ lai lịch) đang đi bộ trên đường. Tại đây, T xin C ma túy thì C đưa cho T một gói thuốc lá hiệu Camel bên trong có 02 (hai) cục Heroin, T cất giấu vào túi quần trước bên phải của T đang mặc rồi quay lại chỗ S đứng chờ, kêu S tiếp tục chở T đi công việc, T không nói cho S biết về việc T đang cất giấu 02 cục Heroin, Sang chở T đến gần chợ Thạch Đà, quận Gò Vấp, do không biết đường nên S đưa xe máy cho T điều khiển chở S ngồi phía sau. Khi T chở S đến trước phường 14, quận Gò Vấp thì bị Công an quận Gò Vấp yêu cầu dừng xe để kiểm tra phát hiện trong túi quần của T đang mặc có cất giấu một gói thuốc lá hiệu Camel bên trong gói thuốc có hai cục Heroin nên bắt giữ như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 02 cục chất bột màu trắng, đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Cẩm Thành và hình dấu công an phường 14, quận Gò Vấp. Tại Bản kết luận giám định số 794/KLGĐ-H ngày 02/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 02 (hai) cục chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1026g (không phẩy một không hai sáu gram) loại Heroin.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số sim 0917510682 (thu giữ của Thành);

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0934804033 (thu giữ của Sang);

- 01 dao bấm kim loại dài 20cm;

- 01 kim tiêm đã qua sử dụng;

- 01 xe máy biển số 59F1-814.82, số khung: RLHJF630FZ-729895, số máy: JF63E-1729932 (Thu giữ của Sang). Qua xác minh xe này do ông Cao Quang P (sinh năm: 1952, nơi ĐKHKTT: phường 3, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 24/4/2018 ông P cho S mượn xe để đi công chuyện sau đó S dùng xe chở T đi thì bị bắt.

Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng số vật chứng đã nêu trên theo Phiếu nhập số 146/PNK ngày 17/6/2018.

Đối với thanh niên tên C cho T ma túy do chưa xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được thì sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 138/Ctr-VKS-GV, ngày 16/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Lê Cẩm T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên toà Đại diện viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Lê Cẩm T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Cẩm T và hình dấu công an phường 14, quận Gò Vấp; 01 dao bấm kim loại dài 20cm; 01 kim tiêm đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số sim 0917510682;

- Trả lại cho ông Cao S 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0934804033;

- Trả lại cho ông Cao Quang P 01 xe máy biển số 59F1-814.82, số khung: RLHJF630FZ-729895, số máy: JF63E-1729932.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo Lê Cẩm T đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lê Cẩm T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội.

[4] Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng 0,1026 gram, loại Heroin nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở mặt khác bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói nylon được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Cẩm Thành và hình dấu của Công an phường 14, quận Gò Vấp, bên trong chứa ma túy, loại Heroin là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số sim 0917510682 là tư vật riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0934804033 là tư vật riêng của ông Cao S không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho ông Sang;

- Đối với 01 xe máy biển số 59F1-814.82, số khung: RLHJF630FZ-729895, số máy: JF63E-1729932. Qua xác minh xe này do ông Cao Quang P đứng tên chủ sở hữu. Ngày 24/4/2018 ông P cho ông S mượn xe để đi công chuyện sau đó ông S dùng xe chở bị cáo đi thì bị bắt. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên có nguồn gốc rõ ràng không liên quan đến hành vi phạm tội nên quyết định trả lại cho chủ sở hữu là ông Cao Quang P.

Đối với thanh niên tên C cho T ma túy do chưa xác định được lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, khi nào xác định được thì sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Cẩm T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lê Cẩm T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 24/4/2018.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Cẩm T và hình dấu công an phường 14, quận Gò Vấp; 01 dao bấm kim loại dài 20cm; 01 kim tiêm đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số sim 0917510682;

- Trả lại cho ông Cao S 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim 0934804033;

- Trả lại cho ông Cao Quang P 01 xe máy biển số 59F1-814.82, số khung: RLHJF630FZ-729895, số máy: JF63E-1729932.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 146/PNK ngày 17/6/2018 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 141/2018/HS-ST ngày 23/08/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:141/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về