Bản án 141/2018/HS-PT ngày 11/07/2018 về tội chống người thi hành công vụ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 141/2018/HS- PT NGÀY 11/07/2018 VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ

Ngày 11 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2018/TLPT-HS ngày 29 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo Trần Gia T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản hình sự sơ thẩm số 123/2018/HS-ST ngày 18/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố X12, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Gia T1, Sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : số X1, X2, phường X3, quận X4, TP. Hồ Chí Minh.

Nơi ở hiện nay: X5, X6, phường X7, quận X8, TP. HCM

Nghề nghiệp: Thợ làm ghế salon; trình độ học vấn: Lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Trần Đức T2, sinh năm 1960 và bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1961. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 18/12/2017 đến ngày 22/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố X12 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Người có quyền lợi liên quan: anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1991. Nơi cư trú: X9, khu phố X10, phường X11, TP. X12, T. Đồng Nai

( Bị cáo T1 có mặt, anh T4 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17/12/2017, Trần Gia T1 điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển số 59U1-207.35 chở Trần Gia T5 (là em ruột T1) lưu thông trên đường Nguyễn Ái Quốc hướng Ngã tư Tân Phong đi Cầu Hóa An. Khi đến chốt giao thông Cổng 1, A42 sân bay Biên Hòa (đang đèn đỏ), T1 vượt đèn đỏ nên lực lượng tuần tra của Cảnh sát giao thông Công an TP. Biên Hòa ra hiệu lệnh dừng xe nhưng T1 không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy. Lúc này anh Nguyễn Văn T4 là Cảnh sát giao thông đang thi hành công vụ dùng xe mô tô đặc chủng đuổi theo T1 đến trước quán cơm Việt ở số 1772, khu phố 6, phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa yêu cầu T1 dừng xe, T1 dừng lại. Anh Thuận chào hiệu lệnh, thông báo lỗi và yêu cầu T1 xuất trình giấy tờ để kiểm ra. T1 xuống xe rút chìa khóa xe đưa cho Trần Gia T5 và nói T5 lấy xe chạy đi. Anh T4 tiếp tục yêu cầu T1 xuất trình giấy tờ thì T1 xông tới chỗ anh Thuận dùng cẳng tay phải đè mạnh vào cổ anh T4 làm anh T4 té ngã ngửa xuống đường rồi T1 nằm úp đè lên người anh T4 để Trần Gia T5 lấy xe chạy. Thấy vậy, Trần Gia T5 nổ máy xe bỏ chạy. T1 đứng lên bỏ chạy thì anh T4 và người dân đến hỗ trợ khống chế bắt giữ T1.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T4 bị thương nhẹ không yêu cầu bồi thường.

- Tại Bản án số 123/2018/HS-ST Ngày: 18/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố X12 đã áp dụng khoản 1 Điều 257 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Gia T1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt: Trần Gia T1 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ vào thời gian tạm giữ (từ ngày 18/12/2017 đến ngày 22/12/2017). 

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 27/4/2018, bị cáo Trần Gia T1 kháng cáo xin được hưởng án treo.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo T1 thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã nêu. Hành vi phạm tội của bị cáo T1 bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 05 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên xét bị cáo T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, căn cứ Điểm s, i Khoản 1 và khoản 2 Điều 5, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo T1, tuyên xử bị cáo Trần Gia T1 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Chống người thi hành công vụ”, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

 [2] Xét kháng cáo của bị cáo T1 về việc xin hưởng án treo:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Gia T1 thừa nhận vào khoảng 15 giờ ngày 17/12/2017, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển số 59U1-207.35 chở em ruột là Trần Gia T5 trên đường đi làm về, đến chốt đèn tín hiệu cổng A42 đường Nguyễn Ái Quốc, thành phố Biên Hòa thì vượt đèn đỏ, bị lực lượng tuần tra của Cảnh sát giao thông Công an TP. Biên Hòa ra hiệu lệnh dừng xe nhưng T1 không chấp hành mà tăng ga bỏ chạy. Anh Nguyễn Văn T4 là Cảnh sát giao thông dùng xe mô tô đặc chủng đuổi theo T1 đến trước quán cơm Việt ở số 1772, khu phố 6, phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa yêu cầu T1 dừng xe. Tại đây T1 có hành vi dùng cẳng tay phải đè mạnh vào cổ anh T4 làm anh T4 té ngã ngửa xuống đường rồi T1 nằm úp đè lên người anh T4, nhằm mục đích cho em ruột là Trần Gia T5 lấy xe bỏ chạy, khi T1 định bỏ chạy thì bị anh T4 và những người dân xung quanh bắt giữ T1. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo

Trần Gia T1 mức án 05 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” là đúng người đúng tội, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Xét bị cáo T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Quá trình sinh sống tại địa phương chấp hành tốt quy định của pháp luật, có xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường X3, Quận X4, thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo có việc làm ổn định và nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Căn cứ Điều 65 BLHS năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo T1 không thuộc trường hợp không được hưởng án treo, và đáp ứng các điều kiện được hưởng án treo, do đó không cần thiết cách ly bị cáo T1 ra khỏi xã hội mà nên giao về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. Vì vậy chấp nhận kháng cáo của bị cáo T1, sửa án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.

 [3] Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

 [4] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Áp dụng khoản 1 Điều 257 của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15 tháng 05 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.

- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Gia T1, sửa án sơ thẩm.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Gia T1 phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt: Trần Gia T1 05 (năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Trần Gia T1 cho Ủy ban nhân dân Phường X3, Quận X4 và Ủy ban nhân dân Phường X7, Quận X8, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp Trần Gia T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trần Gia T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


64
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về