Bản án 141/2017/HSST ngày 26/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 141/2017/HSST NGÀY 26/12/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 134/2017/HSST ngày 09 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cao Thế B (tên gọi khác: không); sinh ngày: 21 tháng 10 năm 1985 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 3, xã DPh, huyện D, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cao Huy Ch và con bà Nguyễn Thị K; vợ: Phạm Thị H (đã ly hôn) và chưa có con; tiền sự: không; tiền án: Ngày 05/11/2015 bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (đã chấp hành xong hình phạt, chưa bồi thường thiệt hại, bản án số 133/2015/HSST); nhân thân: Ngày 20/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện D xử phạt 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/8/2017 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

- Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1960. Có mặt.

Nơi cư trú: Xóm 4, xã DPh, huyện D, tỉnh Nghệ An.

- Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1979. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm 2, xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An.

- Anh Cao Hùng Tr, sinh năm 1988. Có mặt.

Nơi cư trú: Xóm 3, xã DPh, huyện D, tỉnh Nghệ An.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Trọng D, sinh năm 1995. Vắng mặt. Nơi cư trú: Xóm 7, xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An.

- Anh Vũ Văn K, sinh năm 1983. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm 3, xã DQ, huyện D, tỉnh Nghệ An.

- Chị Lê Thị Th1, sinh năm 1978. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Xóm 5, xã ThS, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

- Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1974. Vắng mặt.

Nơi cư trú: Khối 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo: trong khoảng thời gian từ 01/8/2017 đến ngày 23/8/2017, Cao Thế B đã thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản như sau.

Lần thứ nhất: vào lúc 15 giờ, ngày 01/8/2017, B đi xe đạp đến nhà anh H, B dựng xe ngoài cổng, trèo tường vào nhà lấy 01 chiếc bì xác rắn. B trèo bờ tường sang nhà anh Cao Hùng Tr, đi ra phía sau nhà bắt con gà trọi màu xám, đen đang bị nhốt trong lồng sắt bỏ vào bì xác rắn. Sau đó theo lối cũ trèo ra ngoài, đưa xuống Khối 5, thị trấn D bán cho chị Hoàng Thị T với giá 250.000đồng.

Lần thứ hai: khoảng 13 giờ ngày 17/8/2017, B đi bộ qua nhà anh S cùng xóm, thấy xe máy Wave & màu xám, đen, bạc mang biển kiểm soát 37F1- 76.918 dựng phía sau nhà anh S. B dùng 01 chiếc tuốc nơ vít mở khóa điện, lấy xe đi đến nhà Vũ Văn K. Gặp K, B trao đổi nhờ K bán xe, K bán xe cho chị Lê Thị Th1 được 5.000.000đồng, đưa lại cho B 3.000.000đồng.

Lần thứ ba: khoảng 10 giờ, ngày 23/8/2017 B đi bộ qua nhà bà Th, thấy xe máy Sirius màu đỏ bạc mang biển kiểm soát 37P5-2289 của chị Nguyễn Thị Ng, B dùng chìa khóa có sẵn, mở khóa đưa xe đi đến nhờ Nguyễn Trọng D cắm. D cắm và đưa cho B 900.000đồng. Sau khi bị mất xe, chị Ng nghi ngờ B nên đến nói với mẹ B (bà K1). Bà K1 điện thoại cho B, B nói đã cắm rồi, nên chị Ng đưa cho bà K1: 1.500.000đồng để bà K1 đi chuộc xe.

Tổng cộng giá trị B trộm cắp: 23.680.000đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Cao Thế B khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, trong thời gian từ ngày 01 đến 23/8/2017, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc xe máy và 01 con gà chọi. Hành vi của bị cáo Cao Thế B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Thủ tục định giá: Công an huyện D tiến hành trưng cầu định giá tài sản. Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện D, xác định giá trị: 01 con gà chọi - 680.000đồng; 01 xe máy Wave & mang biển kiểm soát 37F1-76.918 - 14.000.000đồng; 01 xe máy Sirius mang biển kiểm soát 37P5-2289 - 9.000.000đồng.

Xử lý vật chứng: 01 xe máy Wave & mang biển kiểm soát 37F1-76.918 – đã được trả lại cho anh Th; 01 xe máy Sirius mang biển kiểm soát 37P5-2289 đã được trả lại cho chị Ng.

Trách nhiệm dân sự: người bị hại anh Th, chị Ng, anh Tr không yêu cầu bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh D, anh K, chị Th1, chị T không yêu cầu gì.

- Tại Bản cáo trạng số 147/VKS-HS ngày 08/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo: Cao Thế B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g (phạm tội nhiều lần, tái phạm) khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18-24 tháng tù. Tịch thu tiền bị cáo thu lợi bất chính 3.250.000 đồng. Trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Bị cáo không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: xin phép Hội đồng xét xử cho tôi được xin lỗi dì Ng, anh Th, tôi đã biết hành vi của mình là sai trái, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, Cao Thế B khai nhận: vào các ngày 01, 17 và 23 tháng 8 năm 2017, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người khác, lén lút lấy cắp 02 xe máy, 01 con gà chọi. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là làm ảnh hưởng, xâm phạm đến việc thực hiện quyền sở hữu của họ. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý. Theo quy định tại khoản 1 điều 138 của Bộ luật hình sự, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 23.680.000đồng (hai mươi ba triệu, sáu trăm, tám mươi ngàn đồng) của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến an toàn, trật tự công cộng, gây ra tâm lý, lo lắng trong cộng đồng dân cư. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội do cố ý; trong các ngày 01, 17, 23/8/2017 lấy cắp 02 chiếc xe máy, 01 con gà chọi; do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần và tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, cũng cần xem xét, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Biện pháp tư pháp: cần áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự tịch thu, sung quỹ Nhà nước tiền bị cáo thu lợi bất chính 250.000đồng tiền bán gà chọi và 3.000.000đồng bán xe máy Wave & của anh Th, tổng cộng 3.250.000 đồng (ba triệu, hai trăm, năm mươi ngàn đồng).

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh D, anh K, chị Th1, chị T không biết tài sản bị cáo trộm cắp mà có nên giúp bị cáo bán và mua, nên không xem xét về hình sự.

Vật chứng: đã được xử lý, không xem xét.

Về án phí hình sự: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Cao Thế B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: khoản 1 điều 138; điểm p khoản 1 điều 46; điểm g (phạm tội nhiều lần, tái phạm) khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Cao Thế B 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 25/8/2017).

- Biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 41 Bộ luật Hình sự tịch thu, sung quỹ Nhà nước 3.250.000 đồng (ba triệu, hai trăm, năm mươi ngàn đồng) tại bị cáo Cao Thế B.

- Án phí: áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/QH14 buộc bị cáo Cao Thế B phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

142
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 141/2017/HSST ngày 26/12/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:141/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về