Bản án 139/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 139/2020/HNGĐ-ST NGÀY 26/08/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 26 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tHành phố C, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 199/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 04 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 648/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Triều X, sinh năm 1989 Địa chỉ: Số 41, đường Hùng V, khóm 5, phường 5, tHành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1981 Địa chỉ: Số 368, đường Nguyễn T, khóm 4, phường 9, tHành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1942 (vắng mặt)

2/ Bà Trần Thị Ư, sinh năm 1949 (vắng mặt)

3/ Anh Nguyễn Hữu H2, sinh năm 1976 (vắng mặt)

4/ Chị Lê Thị S, sinh năm 1979 (vắng mặt)

5/ Anh Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1973 (vắng mặt)

6/ Chị Lê Thị X1, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 368, đường Nguyễn T, khóm 4, phường 9, tHành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, biên bản hòa giải và tại phiên toà, chị Nguyễn Triều X trình bày:

- Hôn nhân: Chị và anh H tự nguyện kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 9, tHành phố C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây thường hay mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên không còn chung sống với nhau khoảng 06 tháng nay, nếu vợ chồng tiếp tục chung sống với nhau thì không có hạnh phúc, vì vậy chị X yêu cầu ly hôn anh H.

- Con chung: Có 02 (hai) người con chung tên Nguyễn Triệu H4, sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Khả H5, sinh ngày 19/10/2017. Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến khi hòa giải, cháu Triệu H4 sống với anh H, cháu Khả H5 sống với chị X. Tuy nhiên cách nay khoảng 02 tuần, chị X đã trực tiếp nuôi dạy cả Triệu H4 và Khả H5. Chị X yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Chị X tự thỏa thuận với anh H, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 - Nợ chung: Năm 2019 chị X với anh H có hỏi mượn ông Nguyễn Hữu H1 và bà Trần Thị Ư 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), nợ anh Nguyễn Hữu H3 và chị Lê Thị X1 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), nợ anh Nguyễn Hữu H2 và chị Trần Thị S 60.000.000đ. Đối với số nợ nêu trên đã thanh toán xong.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa Nguyễn Hữu H trình bày:

- Hôn nhân: Anh H thống nhất với lời trình bày của chị X về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn và mâu thuẫn của vợ chồng. Nay chị X yêu cầu ly hôn, anh H không đồng ý, lý do giữa anh với chị X chưa thỏa thuận xong về tài sản.

- Con chung: Có hai con chung theo chị X trình bày là đúng. Trường hợp giải quyết chấp nhận cho chị X ly hôn với anh, anh không đồng ý giao hai con cho chị X nuôi, anh yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Triệu H4, giao cháu Nguyễn Khả H5 cho chị X nuôi, anh không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung: Anh H tự thỏa thuận với chị X, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 - Nợ chung: Nợ chung theo như chị X trình bày là đúng, tuy nhiên số nợ này hiện anh H và chị X chưa thanh toán trả cho bất kỳ ai. Đối với nợ chung để anh chị với các chủ nợ tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải ngày 23/6/2020, ngày 06/8/2020, ông Nguyễn Hữu H1 và bà Trần Thị Ư trình bày: Ông bà xác định có cho anh H và chị X mượn số tiền 300.000.000 đồng để mua nH1, đến nay anh H và chị X vẫn chưa trả. Ông H1 và bà Ư không yêu cầu Tòa án giải quyết cùng vụ án này, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Tại biên bản hòa giải ngày 23/6/2020, anh Nguyễn Hữu H3 và chị Lê Thị X1 trình bày: Ngày 20/7/2019, anh chị có cho anh H và chị X mượn số tiền 300.000.000 đồng để mua nH1, đến nay anh H và chị X chưa trả, anh chị không yêu cầu giải quyết tại vụ án này, khi nào phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Tại biên bản hòa giải ngày 23/6/2020 anh Nguyễn Hữu H2 và chị Trần Thị S trình bày: Ngày 20/7/2019, anh chị có cho anh H và chị X mượn số tiền 60.000.000 đồng để mua nH1 đến nay vẫn chưa trả. Hiện chị X yêu cầu ly hôn với anh H, anh chị không yêu cầu giải quyết tại vụ án này, để anh chị tự thỏa thuận với anh H và chị X, nếu có phát sinh tranh chấp anh chị sẽ khởi kiện bằng vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

[2] Ông Nguyễn Hữu H1, bà Trần Thị Ư, anh Nguyễn Hữu H2, chị Lê Thị S, anh Nguyễn Hữu H3 và chị Lê Thị X1 có yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[3] Hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị X với anh H kết hôn năm 2013 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 9, tHành phố C theo đúng quy định của pháp luật, vì vậy hôn nhân giữa chị X với anh H là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Thời gian vợ chồng chung sống với nhau, chị X với anh H có phát sinh mâu thuẫn không H1n gắn được, không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, anh chị đã sống riêng khoảng 06 tháng là thực tế, điều này được chị X và anh H cùng thừa nhận. Đối với chị X cương quyết ly hôn với anh H, ngược lại anh H chỉ đồng ý ly hôn khi anh chị thỏa thuận giải quyết xong về tài sản, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, anh H cũng không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ về tài sản trong vụ án này, việc anh H xác định chỉ đồng ý ly hôn khi anh chị thỏa thuận giải quyết xong về tài sản Hội đồng xét xử xét thấy đây không phải là căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận cho ly hôn theo yêu cầu của chị X. Do mâu thuẫn giữa chị X với anh H như anh chị trình bày xét thấy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị X với anh H cũng không muốn H1n gắn mối quan hệ vợ chồng, từ đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị X, cho chị X ly hôn anh H.

[4] Con chung: Chị X với anh H xác định có 02 người con chung tên Nguyễn Triệu H4, sinh ngày 12/11/2014 và Nguyễn Khả H5, sinh ngày 19/10/2017. Chị X yêu cầu được nuôi cả hai con, ngược lại anh H yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Triệu H4, giao cháu Nguyễn Khả H5 cho chị X nuôi.

Xét yêu cầu của chị X và anh H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo quy định của pháp luật, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa tHành niên, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, Hội đồng xét xử giao cháu Khả H5 cho chị X tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Đối với cháu Triệu H4, chị X với anh H cùng xác định cách ngày xét xử khoảng 10 ngày, cháu Triệu H4 sang sinh sống với chị X, do đó buộc chị X giao lại cháu Triệu H4 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị X và anh H có nghĩa vụ và quyền thăm nom con không ai được cản trở. Do chị X và anh H không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[5] Tài sản chung: Chị X với anh H xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Nợ chung: Chị X xác định không có, ngược lại anh H cũng như ông H1, bà Ư, anh H2, chị S, anh H3 và chị X1 cùng xác định chị X với anh H có nợ ông H1 và bà Ư 300.000.000 đồng, nợ anh H3 và chị X1 300.000.000 đồng, nợ anh H2 và chị S 60.000.000 đồng. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu giải quyết tại vụ án này, để các đương sự tự thỏa thuận, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị X phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 147, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự:

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Triều X về việc ly hôn anh Nguyễn Hữu H.

Con chung: Giao Nguyễn Khả H5, sinh ngày 19/10/2017 cho chị X tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Buộc chị X giao lại Nguyễn Triệu H4, sinh ngày 12/11/2014 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị X, anh H không cấp dưỡng nuôi con, có nghĩa vụ và quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Tài sản chung: Chị X với anh H tự thỏa thuận, Hội đồng xét xử không giải quyết.

 Nợ chung: Không giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình: Chị X phải chịu 300.000 đồng. Ngày 27 tháng 4 năm 2020 chị X đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau theo biên lai số 0001693 được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nH1 nước.

Chị X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh H có yêu cầu được vắng mặt khi tuyên án, ông Nguyễn Hữu H1, bà Trần Thị Ư, anh Nguyễn Hữu H2, chị Lê Thị S, anh Nguyễn Hữu H3, chị Lê Thị X1 có yêu cầu được vắng mặt khi xét xử nên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi Hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hành án dân sự thì người được thi Hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hành, quyền yêu cầu thi Hành án, tự nguyện thi Hành án hoặc bị cưỡng chế thi Hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi Hành án dân sự, thời hiệu thi Hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hành án dân sự.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 139/2020/HNGĐ-ST ngày 26/08/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:139/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về