Bản án 138/2019/HS-ST ngày 04/09/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 138/2019/HS-ST NGÀY 04/09/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 137/2019/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn H, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1971, tại Nam Định.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm 12, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H và bà Đinh Thị Q (đều đã chết); vợ Phạm Thị Y, sinh năm 1973; con: Có 04 con, con lớn sinh năm 1992; con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay; có mặt.

2. Vũ Văn H1; sinh ngày 10 tháng 3 năm 1989, tại Nam Định.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đội 9, xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ và bà Vũ Thị T; vợ Phùng Thị H2; con: Có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện nay đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay, có mặt.

3. Vũ Văn B; sinh ngày 05 tháng 5 năm 1983 tại Nam Định

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đội 4, xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T và bà Vũ Thị C; vợ Lê Thị V; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không, bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay, có mặt.

4. Vũ Văn D; sinh ngày 10 tháng 9 năm 1982 tại Nam Định.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm 6, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thế T và bà Cao Thị M; vợ Trịnh Thị L; con: Có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay, có mặt.

5. Phạm Văn T1; sinh ngày 10 tháng 10 năm 1981 tại Nam Định.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đội 4, xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C và bà Mai Thị Ê (đều đã chết); vợ Đỗ Thị H; con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không, bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay, có mặt.

6. Mai Văn P; sinh ngày 23 tháng 9 năm 1994 tại Nam Định.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đội 10, xóm Đ xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Đ và bà Nguyễn Thị O; vợ; con: Chưa có ; tiền án, tiền sự: Không, bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay, có mặt.

7. Vũ Văn G; sinh ngày 07 tháng 01 năm 1975 tại Nam Định.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đội 3, xóm Thành Thắng, xã Giao Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ học vấn: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Thịnh (đã chết) và bà Vũ Thị Ràng; vợ Mai Thị Hà; con: Có ba con: Con lớn sinh năm 2000; con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 24/6/2019 đến ngày 29/6/2019 hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/6/2019 đến nay; có mặt.

Người làm chứng: Anh Trần Quý T2, vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn Đ1, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G có hành vi đánh bạc tại khu tái định cư thôn R, xã M, thành phố Lạng Sơn, thu giữ trên chiếu bạc 5.100.000 đồng và trên người các bị cáo 5.981.000 đồng; trong đó số tiền sẽ sử dụng để đánh bạc là 3.981.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.081.000 đồng. Vật chứng của vụ án là 36 quân bài Tú lơ khơ cùng một số tài sản cá nhân khác của các bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số 139/CT-VKSTP, ngày 15/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn H Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Do cùng sinh ra và lớn lên tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định nên có mối quan hệ quen biết. Cuối tháng 02/2019, các bị cáo đi từ nhà lên thành phố Lạng Sơn làm nghề thợ xây các công trình. Sáng ngày 24/6/2019, do trời mưa không thể thi công công trình được nên Đỗ Văn H đang nghỉ ở lán tại khu tái định cư thôn R, xã M, thành phố L đã gọi điện rủ Vũ Văn G và Phạm Văn T1 đến chơi. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày có Vũ Văn B cùng Vũ Văn G đi xe taxi đến lán của Đỗ Văn H chơi, sau khi ngồi nói chuyện được một lát thì Đỗ Văn H, Vũ Văn G và Vũ Văn B rủ nhau đánh bài ăn tiền để mua đồ ăn cơm trưa. Do thiếu người nên Đỗ Văn H gọi điện thoại cho Vũ Văn D đang ở gần đó đến tham gia, sau đó Đỗ Văn H đi ra cửa hàng tạp hóa mua 02 (hai) bộ bài tú lơ khơ để đánh bài. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn G, Vũ Văn B và Vũ Văn D cùng nhau đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh “chín cây”. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày có Phạm Văn T1 điều khiển xe mô tô đến, nhìn thấy Đỗ Văn H, Vũ Văn G, Vũ Văn B và Vũ Văn D đang đánh bài, Phạm Văn T1 gọi điện thoại rủ thêm Vũ Văn H1 đến tham gia. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì Vũ Văn H1 và Mai Văn P đi đến. Thấy đông người cùng tham gia Đỗ Văn H, Vũ Văn G, Vũ Văn B, Vũ Văn D đã thống nhất chuyển sang đánh bài ăn tiền dưới hình thức “ba cây” để Phạm Văn T1, Vũ Văn H1 và Mai Văn P cùng tham gia.

Hình thức đánh bạc như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, lọc bỏ những quân bài có hình người và quân bài 10; tổng số các quân bài sử dụng là 36 quân từ quân bài át (“A”) tính là 1 điểm đến quân bài 9; thống nhất đặt tiền cửa là tiền đặt cược với người cầm chương (nhà cái) từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng và đặt “tiền gà” là 10.000 đồng/01 ván chơi (“tiền gà” là tiền mà mỗi người chơi đều phải đặt trước mỗi ván chơi). Cách tính điểm: Nếu tổng điểm ba quân bài của người chơi cộng lại lớn hơn điểm của người cầm chương thì người cầm chương phải trả cho người chơi bằng số tiền người chơi đã đặt cửa và ngược lại, nếu có người bằng điểm nhau thì so sánh chất các quân bài theo thứ tự từ cao xuống thấp là Cơ - Rô- Nhép - Bích; đối với “tiền gà”, người nào (bao gồm cả người cầm chương) mà tổng điểm của ba quân bài cộng lại được 10 điểm, cao nhất thì được lấy “tiền gà” và cầm chương, nếu không có ai đủ điều kiện thì tiếp tục chơi ván mới và các bị cáo tiếp tục đặt tiếp “tiền gà”. Khi các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G đang chơi được khoảng 6 đến 7 ván dưới hình thức đánh “ba cây” do Vũ Văn B cầm cái thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Quá trình đánh bạc bị cáo Đỗ Văn H sử dụng 908.000 đồng để đánh bạc, bị cáo bỏ ra trước 700.000 đồng, quá trình chơi thắng 30.000 đồng thì bị bắt quả tang bị tạm giữ 730.000 đồng trên chiếu bạc và 208.000 đồng trên người. Bị cáo Vũ Văn H1 đem theo 3.693.000 đồng, đã cho Phạm Văn T1 vay 1.000.000 đồng để đánh bạc, còn lại 2.693.000 đồng bị cáo lấy ra 1.693.000 đồng để đánh bạc, còn lại 1.000.000 đồng để mua thức ăn cho thợ xây. Quá trình chơi, Vũ Văn H1 bỏ ra 250.000 đồng, thắng được 60.000 đồng, khi bị bắt bị tạm giữ 310.000 đồng trên chiếu bạc; tạm giữ trên người 2.443.000 đồng, trong đó có 1.443.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Bị cáo Vũ Văn D sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Vũ Văn D thắng 10.000 đồng, khi bị bắt bị tạm giữ 1.010.000 đồng trên chiếu bạc. Bị cáo Vũ Văn B sử dụng 880.000 đồng để đánh bạc, đã bỏ ra trước 450.000 đồng, chơi thua 40.000 đồng. Khi đang cầm cái chơi được khoảng 06 (sáu) ván thì bị bắt và bị tạm giữ 410.000 đồng trên chiếu bạc và 430.000 đồng trên người, ngoài ra còn tạm giữ 400.000 đồng là “tiền gà” trên chiếu bạc. Bị cáo Phạm Văn T1 vay của Vũ Văn H1 1.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình chơi bị cáo thắng 200.000 đồng, khi bị bắt bị tạm giữ 1.200.000 đồng trên chiếu bạc. Bị cáo Mai Văn P đem theo 2.000.000 đồng và sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc bị cáo thua 650.000 đồng, khi bị bắt bị tạm giữ 350.000 đồng trên chiếu bạc và tạm giữ 1.000.000 đồng trên người. Bị cáo Vũ Văn G sử dụng 2.400.000 đồng để đánh bạc; bị cáo đã bỏ ra trước 500.000 đồng, quá trình đánh bạc thắng 190.000 đồng. Khi bị bắt bị tạm giữ 690.000 đồng trên chiếu bạc và 1.900.000 đồng trên người.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên nội dung quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G phạm tội "đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i; s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 35; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị phạt tiền đối với các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1 từ 25 đến 30 triệu đồng, các bị cáo Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài Tú lơ khơ; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 9.081.000 đồng thu được tại chiếu bạc và trên người các bị cáo dùng để đánh bạc; xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản gồm điện thoại di động, xe môtô, ví và các giấy tờ cá nhân bị tạm giữ cho các bị cáo đầy đủ. Trả lại bị cáo Vũ Văn H1 và Mai Văn P mỗi bị cáo 1.000.000 đồng (một triệu); về án phí : Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều cho rằng là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/6/2019, tại lán trại của công trình đang xây dựng khu tái định cư thôn R, xã M, thành phố L. Các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G đã có hành vi đánh bạc, bằng hình thức đánh "ba cây" thì bị tổ Công tác của Công an thành phố Lạng Sơn bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc và trên người các đối tượng 11.081.000 đồng; trong đó số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc 9.081.000 đồng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Vũ Văn G, Phạm Văn T1 và Mai Văn P phạm tội Đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Gây mất trật tự trị an trên địa bàn xã Mai Pha và là một trong những nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc gia đình và phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, phải được xử lý thỏa đáng, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, thể hiện trước và trong thời gian các bị cáo tham gia đánh bạc không có sự chuẩn bị, phân công. Hậu quả của tội phạm là kết quả do hành vi của các bị cáo cùng là người thực hành. Vì vậy các bị cáo tự phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương với số tiền mà các bị cáo đã tham gia trong vụ án.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo đều là người trưởng thành, xuất thân từ nông dân lao động phổ thông, trình độ học vấn còn thấp và không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự được xem xét khi quyết định hình phạt.

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.

[7] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, thấy rằng lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận bởi lẽ các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công cộng, tính chất nguy hiểm cho xã hội không lớn. Tại địa phương, các bị cáo chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú ; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Do đó không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính là thỏa đáng, đủ tính răn đe.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về xử lý vật chứng: Gồm 52 quân bài tú lơ khơ là công cụ dùng vào việc phạm tội, vì vậy tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 11.081.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc và trên người các bị cáo, Công an thành phố Lạng Sơn đã trưng cầu giám định xác định toàn bộ số tiền trên đều là tiền thật. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa xác định số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.081.000 đồng. Vì vậy cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 2.000.000 đồng của bị cáo Vũ Văn H1 và Mai Văn P không dùng vào việc đánh bạc, trả lại các bị cáo sử dụng là phù hợp.

[10] Đối với các vật chứng bị tạm giữ của bị cáo Đỗ Văn H gồm 01 điện thoại nhãn hiệu iphone 6, màu trắng, số IMEI:358370069067945; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen, số IMEI:357906/04/774896/4: 01 đăng ký xe môtô số 7769C. Tạm giữ của bị cáo Vũ Văn H1 01 điện thoại hiệu Mobell màu đỏ, số IMEI 1: 810201600164960, IMEI2: 810202600164968. Tạm giữ của bị cáo Vũ Văn D 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng, số IMEI 1 :863898037649418, số IMEI 2: 1863898037649418. Tạm giữ của bị cáo Vũ Văn B 01 điện thoại Samsung 610 màu ghi, số IMEI 1:353415/08/718188/6, số IMEI 2: 353416/08/718188/4. Tạm giữ của bị cáo Phạm Văn T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 29R7-3512, số máy: LC150FMG02260572, số khung: LLCXCHLL8Y0220; 01 điện thoại OPPO màu vàng, số IMEI 1: 867816031894653, số IMEI 2: 867816031894646. Tạm giữ của bị cáo Mai Văn P 01 điện thoại hiệu MASSTEL màu xanh, số IMEI: 301014165185999; 01 điện thoại hiệu Galaxy Note 4, màu đen, số IMEI: 9900048170505002. Tạm giữ của bị cáo Vũ Văn G 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung J730 màu đen số IMEI 1: 356446/08/583102/7, IMEI2: 356447/08/583102/5; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI: 358991093288163; 01 ví giả da màu đen có hình chữ H2; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 360043368737; 01 giấy chứng minh nhân dân số 162173608 mang tên Vũ Văn G. Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp, không sử dụng vào việc phạm tội, nên đã trả lại các bị cáo quản lý , sử dụng. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[11] Về án phí : Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35, điểm s; i khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn G, Vũ Văn B, Vũ Văn D, Phạm Văn T1 và Mai Văn P phạm tội Đánh bạc.

2. Về hình phạt:

Phạt tiền bị cáo Đỗ Văn H 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu)

Phạt tiền bị cáo Vũ Văn H1 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu)

Phạt tiền bị cáo Vũ Văn B 20.000.000 đồng (hai mươi triệu)

Phạt tiền bị cáo Vũ Văn D 20.000.000 đồng (hai mươi triệu)

Phạt tiền bị cáo Vũ Văn G 20.000.000 đồng (hai mươi triệu)

Phạt tiền bị cáo Phạm Văn T1 20.000.000 đồng (hai mươi triệu)

Phạt tiền bị cáo Mai Văn P 20.000.000 đồng (hai mươi triệu)

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ;

Tịch thu của các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G 9.081.000đ (chín triệu không trăm tám mươi mốt nghìn đồng) sung Ngân sách Nhà nước. Trả lại bị cáo Vũ Văn H1 và Mai Văn P mỗi bị cáo 1.000.000 đồng (một triệu).

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2019).

4. Về án phí: Các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung Ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Văn H, Vũ Văn H1, Vũ Văn D, Vũ Văn B, Phạm Văn T1, Mai Văn P và Vũ Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 138/2019/HS-ST ngày 04/09/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:138/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về