Bản án 138/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 138/2018/HS-ST NGÀY 25/10/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 132/2018/TLST-HS ngày 03/10/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2018/QĐXXST-HS ngày 12/10/2018, đối với bị cáo:

Lại Quốc H, sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi cư trú: Xóm 4, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Quốc T, sinh năm 1945 và bà Lại Thị U (đã chết); có vợ là Lương Thị T, sinh năm 1978 và 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2018 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Huyền C - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Nam; Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Dương Thị D, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 4, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; Có mặt.

* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị T (tên gọi khác Nguyễn Tân P), sinh năm 1980; Trú tại: Thôn C, xã V, huyện K, tỉnh Hà Nam; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 ngày 02/8/2018, Lại Quốc H điều khiển xe mô tô BKS 90F1-8231 đi từ nhà đến đoạn đường ngã ba thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố P để tìm mua ma túy sử dụng, H gặp người phụ nữ khoảng 25 tuổi (không rõ lai lịch) đang đứng ven đường. H dừng xe chỗ người phụ nữ, người phụ nữ hỏi  “lấy đồ à”, H hiểu ý người phụ nữ hỏi H mua ma túy à, H trả lời “Vâng” và lấy trong người ra số tiền 280.000đ đưa cho người phụ nữ, người phụ nữ cầm tiền và đưa cho H 01 gói nilon màu xanh hàn kín, biết là gói ma túy H cầm gói ma túy đút vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P thì bị lực lượng Công an tỉnh Hà Nam phát hiện có biểu hiện nghi vấn yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải có 01 gói nilon màu xanh hàn kín, bên trong được gói bằng lớp giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng. H khai nhận là gói ma túy cất giữ mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản theo quy định của pháp luật. Thu giữ vật chứng, tài sản gồm:

- 01 gói nilon màu xanh hàn kín, bên trong được gói bằng lớp giấy trắng có dòng kẻ bên trong có chất bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 đăng ký xe số A0013264 mang tên Lê Văn T và 01 xe mô tô màu nâu BKS 90F1-8231.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lại Quốc H ở xóm 4, xã L, thành phố P. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật tài sản nào liên quan.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 85, trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam giám định: Chất bột mầu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.

Tại bản kết luận giám định số 122/PC54-MT ngày 04/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột mầu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,226 gam, loại Heroine. Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”.

Bản cáo trạng số 141/CT-VKS-PL ngày 02/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố Lại Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý trình bày luận tội: giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Lại Quốc H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt Lại Quốc H từ 24 tháng đến 30 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine cùng bao gói; trả lại chị Dương Thị D chiếc xe mô tô mầu nâu BKS 90F1- 8231 và đăng ký xe.

- Bị cáo Lại Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, bị cáo có thời gian tham gia quân đội, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, bố bị cáo là người có công được Nhà nước tặng thưởng huân chương.

Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Lại Quốc H là 22 tháng tù giam, để bị cáo có cơ hội sớm về với gia đình và cộng đồng.

- Chị Dương Thị D có quan điểm: chiếc xe mô tô mầu nâu BKS 90F1-8231 và đăng ký xe thu giữ của Lại Quốc H thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị, chị cho H mượn xe và giấy tờ để H đi mua thuốc chứ chị không biết H sử dụng chiếc xe và giấy tờ xe để đi mua ma túy. Vì vậy chị đề nghị Hội đồng xét xử cho chị xin lại chiếc xe và giấy tờ xe này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Lại Quốc H đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp chứng cứ khác của vụ án như: biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 50 ngày 02/8/2018, tại khu vực ngã ba đường thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Lại Quốc H có hành vi cất giấu trái phép 0,226 gam ma túy, loại Heroine (Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ- CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ), mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có thời gian tham gia quân đội, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương, bố bị cáo là người có công được Nhà nước tặng thưởng huân chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố Phủ Lý, đồng thời kéo theo các tệ nạn xã hội, tội phạm nguy hiểm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tuyên mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng, bản thân là lao động tự do, nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ khoảng 25 tuổi bán trái phép chất ma túy cho Lại Quốc H. Quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, nhân thân của đối tượng này nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo Lại Quốc H cùng bao gói cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô mầu nâu BKS 90F1-8231 và đăng ký xe thu giữ của Lại Quốc H. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản, giấy tờ hợp pháp của chị Dương Thị D (hàng xóm của H), chị D cho H mượn xe và giấy tờ nhưng không biết H sử dụng chiếc xe và giấy tờ xe làm phương tiện đi mua trái phép chất ma túy. Do đó cần trả lại chị D chiếc xe và giấy tờ xe này.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lại Quốc H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Lại Quốc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2018.

3. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì đã niêm phong số 122/PC54-MT, mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 tại mép dán mặt sau có 03 (ba) chữ ký; 02 (hai) dòng chữ ghi họ tên Nguyễn Thị Lan H, Phạm Hồng V; 01 (một) dấu chức danh Trưởng phòng Trung tá Nguyễn Đại H; 03 (ba) dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn.

- Trả lại chị Dương Thị D: 01 (một) chiếc xe mô tô dán nhãn Dream II, màu sơn nâu, đeo biển kiểm soát: 90F1-8231, số khung: không xác định được; Số máy: 150FMG-20000152 và 01 (một) đăng ký mô tô xe máy số A0013264 mang tên Lê Văn T, nơi cư trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 04/10/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự TP Phủ Lý).

4. Án phí: Buộc bị cáo Lại Quốc H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ

thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 138/2018/HS-ST ngày 25/10/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:138/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về