Bản án 136/2019/HSST ngày 06/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 136/2019/HSST NGÀY 06/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2019/HSST ngày 25/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐIỂU D; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995; tại Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: tổ 9, ấp H, xã Tân H, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Stiêng; Tôn giáo: không; Con ông Điểu H, sinh năm: 1955 và bà Thị M, sinh năm 1960; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/7/2019 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: anh Điều H, sinh năm 2000; Trú tại: ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng)

Những người làm chứng:

1. anh Điểu T, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Trú tại: ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng)

2. anh Điểu Tr, sinh năm 1994; Trú tại: ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 09/7/2019, Điểu D điều khiển xe môtô không có biển số đến nhà bà Mông Thị N ở ấp B, xã T, thành phố Đ để ăn tiệc cưới. Khoảng 21 giờ cùng ngày, D ra về, khi ra đến khu vực để xe của đám cưới thì D thấy xe môtô nhãn hiu Yamaha Sirius biển số 93G1 – 045.15 của anh Điểu H không có người trông coi nên D nảy sinh ý định lấy trộm xe này để làm phương tiện đi lại. Sau đó, D dẫn xe môtô 93G1 – 045.15 đi ra lô cao su cách đó khoảng 800m rồi dùng cây gỗ cao su đập phá mặt nạ phía trước và bửng chắn gió bên phải của xe để đấu dây điện nổ máy xe chạy về nhà. Trong lúc D đang đấu dây điện để nổ máy xe thì bị anh Điểu H cùng một số người dân bắt giữ giao cho Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 21, 22, 43 – 68).

Kết luận định giá số 112/KLĐG ngày 15/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ kết luận: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93G1 – 045.15, số máy: 5C64851460, số khung: C640CY851445, đã qua sử dụng, còn hoạt động bình thường, trị giá 5.500.000đồng (bút lục 34).

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình bắt quả tang, cơ quan Công an tạm giữ 01 xe môtô biển số 93G1 – 045.15; 01 xe môtô không biển kiểm soát, không nhãn hiệu; 01 điện thoại di động hiệu Mastel, màu xanh, 01 khúc củi cao su, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 93G1 – 045.15 (bút lục 21, 22).

Ngày 04/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Điểu H xe môtô 93G1 – 045.15, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển kiểm soát 93G1 – 045.15 số 004725 mang tên Đào Xuân Th (bút lục 36).

Về dân sự: Anh Điểu H yêu cầu Điểu D bồi thường tiền sửa xe số tiền theo hóa đơn (bút lục 57, 58, 57A).

Tại bản cáo trạng số 133/CT – VKS ngày 23/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị cáo Điểu D về tội:“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giữ nguyên bản cáo trạng số 133/CT – VKS ngày 23/9/2019 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo D từ 06 đến 09 tháng tù.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Điều D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng số 133/CT – VKS ngày 23/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận định giá tài sản, vật chứng của vụ án đã thu giữ được cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: ngày 09/7/2019 bị cáo lợi dụng vào sự sơ hở của anh Điểu H lén lút thực hiện hành vi lấy trộm một xe mô tô có biển số 93G1 – 045.15; trị giá 5.500.00đồng. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và căn cứ pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, trong quá trình thực hiện tội phạm bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự. Song chỉ để có xe sử dụng làm phương tiện đi lại bị cáo đã trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô của người khác. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng cho người dân. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Bình Phước đã đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 06 đến 09 tháng tù theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, xét bị cáo nhất thời phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã thu hồi trả lại cho người bị hại, tại phiên tòa tự nguyện hoàn trả tiền sửa xe cho người bị hại nên cần xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không xem xét áp dụng với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Anh H đã được nhận lại xe, tuy nhiên xe bị hư hỏng nên anh Hưng yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền sửa xe là 2.162.000đồng. Do anh H có hóa đơn kèm theo, tại phiên tòa bị cáo đồng ý nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả cho anh H số tiền sửa xe là 2.162.000đồng.

[4] Về vật chứng vụ án:

Một khúc củi cao su cần tịch thu tiêu hủy; Một điện thoại di động hiệu Masstel, màu xanh đen, đã cũ không lên nguồn thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.

Một xe môtô không biển kiểm soát, không nhãn hiệu cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[5] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Điểu D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điều 50, 38; Điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Điểu D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 10/7/2019.

3. Về dân sự: Áp dụng điều 46 của Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo hoàn trả cho anh Điểu H số tiền 2.162.000đồng (Hai triệu một trăm sáu mươi hai ngàn đồng)

4. Về vật chứng: Áp dụng điều 46, 47 của Bộ luật hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy một khúc củi cao su; Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Masstel, màu xanh đen, đã cũ không lên nguồn.

5. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 136/2019/HSST ngày 06/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:136/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về