Bản án 136/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn, con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 136/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ LY HÔN, CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 386/2019/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T; Nơi cư trú: Thôn S, xã A, huyện T, thành phố H; Vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh  Lê Hữu M; Nơi cư trú: Thôn B, xã D, huyện T thành phố Hải Phòng; Hiện đang cai nghiện tập trung tại Cơ sở cai nghiện Gia M; Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Chị Hoàng Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lê Hữu M trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 2015, nhưng đến năm 2017 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã D, huyện T thành phố Hải Phòng vào ngày 10 tháng 10 năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau tại nhà bố mẹ đẻ anh Lê Văn Minh tại Thôn S, xã A, huyện T, thành phố H. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một năm đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, anh M ham chơi bời mắc nghiện ma túy và phải đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia Minh từ cuối năm 2018 đến nay, do mâu thuẫn nên chị cùng hai con bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, cho đến nay vợ chồng không còn quan tâm nhau. Nay Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Hữu M.

Về con chung: Chị Hoàng Thị T trình bày chị và anh Lê Hữu M có 02 con chung tên Lê Hữu Nguyên K, sinh ngày 30/5/2015 và Lê Thị Thảo N, sinh ngày 27/01/2017, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay 02 con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi cả hai con chung cho đến khi hai con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện nay anh Lê Hữu M đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia Minh nên để chị và anh Lê Hữu M tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Lê Hữu M hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia M, thành phố Hải Phòng vắng mặt có lý do, song đã có lời khai trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và Chị Hoàng Thị T kết hôn với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D vào năm 2017 và có sinh được hai con chung. Trong quá trình chung sống do anh nghi ngờ Chị T không chung thủy có quan hệ ngoại tình, thường xuyên bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống không quan tâm chăm sóc gia đình. Vợ chồng cũng sống ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay không còn quan tâm nhau, nay Chị T xin ly hôn anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ được nữa nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh Lê Hữu M trình bày vợ chồng có 02 con chung tên Lê Hữu Nguyên K, sinh ngày 30/5/2015 và Lê Thị Thảo N, sinh ngày 27/01/2017, kể từ khi anh đi cai nghiện đến nay 02 con chung do Chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, khi ly hôn nguyện vọng của anh là đồng ý để Chị T trực tiếp nuôi cả hai con chung cho đến khi anh cai nghiện xong sẽ về thỏa thuận với Chị T về việc nuôi con sau.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Để anh và Chị T tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Lê Hữu M trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn Chị Hoàng Thị T, bị đơn anh Lê Hữu M hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia Minh đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1, Điều 35; Điều 147; khoản 2, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 chấp nhận Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Hữu M; Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao 02 con chung tên Lê Hữu Nguyên K, sinh ngày 30/5/2015 và Lê Thị Thảo N, sinh ngày 27/01/2017, cho đến khi cả hai con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T và anh Lê Hữu M thống nhất trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm: Bản sao Giấy khai sinh của con; Bản sao Sổ hộ khẩu gia đình; Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị Tuyền; Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện T thành phố Hải Phòng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn là Chị Hoàng Thị T vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Lê Hữu M hiện đang chấp cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia M, thành phố Hải Phòng, vắng mặt có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa Chị Hoàng Thị T và anh Lê Hữu M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh  Lê Hữu M ham chơi bời phải đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia M, thành phố Hải Phòng, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau đến nay không còn quan tâm nhau. Nay Chị Hoàng Thị T khẳng định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh   Lê Hữu M không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết xin được ly hôn anh Lê Hữu M. Anh  Lê Hữu M thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nay Chị T xin ly hôn anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ nên anh đồng ý ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh  Lê Hữu M đều vắng mặt có lý do. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Hoàng Thị T, cho Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Hữu M.

[3]. Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh  Lê Hữu M thống nhất trình bày: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Hữu Nguyên K, sinh ngày 30/5/2015 và Lê Thị Thảo N, sinh ngày 27/01/2017. Khi ly hôn Chị Hoàng Thị T đề nghị được tiếp tục nuôi con chung , tuy nhiên việc giao con cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Tài liệu xác minh  thể hiện từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay hai con chung do Chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, mặt khác  anh  M hiện nay đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện Gia M, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao 02 con tên Lê Hữu Nguyên K, sinh ngày 30/5/2015 và Lê Thị Thảo N, sinh ngày 27/01/2017 cho Chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Hoàng Thị T trình bày về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị và anh Lê Hữu M tự thỏa thuận giải quyết, anh  Lê Hữu M vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] . Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T và anh Lê Hữu M thống nhất trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1, Điều 35; Điều 147; khoản 2, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình ; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Lê Hữu M.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Lê Hữu Nguyên K, sinh ngày 30/5/2015 và Lê Thị Thảo N, sinh ngày 27/01/2017, cho Chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002567, ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thành phố H. Chị Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


125
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 136/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về ly hôn, con chung khi ly hôn

Số hiệu:136/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về