Bản án 136/2017/HSST ngày 15/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 136/2017/HSST NGÀY 15/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 129/2017/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Lò N; sinh ngày 29/8/1997 tại Sơn La. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; tạm trú: ngõ 4, đường N, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông: Lò C, sinh năm 1979, con bà: Cà H, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 14/6/2017, tạm giam từ ngày 17/6/2017 đến nay. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lò N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau: Hồi 16 giờ 45 phút, ngày 14/6/2017 tại phía sau nhà số 6, đường P, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn bắt quả tang Lò N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ 01 (một) gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng và một số tài sản khác.

Tại Kết luận giám định số: 244/KL-PC54 ngày 16 tháng 6 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine có trọng lượng 0,176 gam (đã trừ bì).

Tại Bản cáo trạng số: 137/KSĐT, ngày 16 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lò N để xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Lò N thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Cụ thể: Bản thân bị cáo nghiện chất ma túy Heroine, khoảng 16 giờ ngày 14/6/2017 bị cáo đi từ nhà trọ ra cổng chợ Đ tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây bị cáo gặp một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ. Bị cáo đưa cho người này 100.000 đồng nhờ đi mua hộ ma túy, sau đó người này điều khiển xe mô tô chở bị cáo đến khu vực chợ gần bờ suối đi vào một ngõ nhỏ bảo bị cáo đứng đợi để đi lấy ma túy. Một lúc sau người đó quay lại đưa cho bị cáo 02 gói nhỏ được bọc trong tờ giấy vệ sinh, người đó lại bảo bị cáo đứng đợi để đi mua xi lanh, kim tiêm và nước cất về sử dụng. Trong quá trình đợi bị cáo nhét 02 gói ma túy vào góc tường của nhà số 6, đường P, phường H, thành phố L thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ. Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm bị cáo sớm được trở được về với gia đình và xã hội.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa XIV: xử phạt bị cáo Lò N từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, không có tài sản. Về xử lý vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật sau giám định; trả lại cho bị cáo: 01 ví da màu nâu đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lò N và số tiền 610.000 đồng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Lò N tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 14/6/2017 tại khu vực nhà số 6, đường P, phường H, thành phố L tổ công tác Công an thành phố L bắt quả tang Lò N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ 01 (một) gói giấy nhỏ bên trong chứa chất bột màu trắng. Qua giám định là chất ma túy Heroine có trọng lượng 0,176gam (đã trừ bì). Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lò N đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Chúng ta đều biết ma túy là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, đây là loại độc dược gây hại cho sức khỏe của con người. Việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy cũng như tệ nạn ma túy nói chung làm băng hoại đạo đức xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội khác. Hiện nay, việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy đang là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.

Để có mức án thỏa đáng ngoài việc xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy; không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời bị cáo rất ăn năn hối cải về việc làm mà mình đã gây ra. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

Theo quy định tại điểm điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa  đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, theo đó kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 và theo điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 quy định các tình tiết có lợi được áp dụng cho bị cáo trước thời điểm Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành. Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù. Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo nhận thức được rõ hành vi tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm phục vụ lợi ích bất hợp pháp của bản thân. Hành vi mà bị cáo gây ra cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản (theo biên bản xác minh ngày 26/6/2017) nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị này là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với người đàn ông đã đi mua ma túy cho bị cáo, do bị cáo không rõ tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không làm rõ được để xử lý trong vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Vật chứng chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07 tháng 8 năm 2017 gồm có: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định, 01 ví da màu nâu đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lò N và số tiền 610.000 đồng.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là chất ma túy do Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với 01 ví da màu nâu đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lò N và số tiền 610.000 đồng là tài sản và giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lò N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm b, khoản 1, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội khóa XIV; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lò N 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 14 tháng 6 năm 2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 41 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo: 01 ví da màu nâu đã cũ; 01 chứng minh nhân dân mang tên Lò N và số tiền 610.000 đồng (sáu trăm mười nghìn đồng).

(Tang vật trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07 tháng 8 năm 2017. Số tiền 610.000 đồng hiện đang được gửi ở tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Tài khoản  số 3949.0.1054411.00000 tại Kho bạc nhà nước: Phòng giao dịch Kho bạc nhà nước Lạng Sơn theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 08 tháng 8 năm 2017).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


128
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về