Bản án 136/2017/HSST ngày 13/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ -TP. ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 136/2017/HSST NGÀY 13/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 13/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2017/TLST-HS ngày 30/10/2017 đối với bị cáo:

Họ vàn tên: Nguyễn P H , sinh năm 1994; tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi ĐKNKTT: đường Đào Duy Từ, phường Thành Công, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Chỗ ở: đường Lý Thái Tổ, phường Cẩm Châu, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông Nguyễn V H và bà Đào T H ; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị cáo hiện đang bị tam giam ( có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Phước Đ , sinh năm 19 . Trú tại: đường Điện Biên Phủ, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng(vắng mặt).

+ Anh Trương T P , sinh năm 19 . Trú tại: Nguyễn Trường Tộ, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

+ Chị Nguyễn T H , sinh năm 19 . Trú tại: Tổ A phường T A , thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (có mặt).

- Người làm chứng : Ông Đinh M T , sinh năm 19 . Trú tại: Tổ phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn P H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 02 giờ 30 ngày 18/7/2017 tại phòng Vip 7 quán K đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đà Nẵng bắt quả tang đối với Nguyễn P H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ tại phòng Vip 7: Trong 01 cái ly để trên bàn có 01 (một) gói nylong bên trong chứa 06 (sáu) viên nén màu xanh (H khai nhận là ma túy tổng hợp loại thuốc lắc, được niêm phong ký hiệu A1); 01(một) gói nylong màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (H khai nhận là ma túy loại Ketamine, được niêm phong ký hiệu A2). Trong người của Nguyễn P H 01(một) gói nylong màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng (H khai nhận là ma túy loại Ketamine, được niêm phong ký hiệu B).

- Thu giữ trong xe ô tô BKS: 92A-088…., nhãn hiệu KIA (xe của của H sử dụng) 01(một) gói nylong màu trắng bên trong có chứa 10 (mười) viên nén màu xanh lá chuối, đường viền có hình răng cưa một mặt có hình vương miện (H khai nhận là ma túy tổng hợp loại thuốc lắc, được niêm phong ký hiệu C1) và 26 viên nén màu xanh có chữ VL cùng các mảnh vỡ màu xanh của viên nén (H khai nhận là ma túy tổng hợp loại thuốc lắc, được niêm phong ký hiệu C2). Cùng các vật chứng: 01 xe ô tô BKS: 92A-088…, nhãn hiệu KIA, số khung: IM6FC56327, số máy: G4FGFS861012; 01 Điện thoại di động màu trắng đục, có chữ Nokia gắn sim số: 0942797000, số Imel 1: 356007083301445, số Imel 2: 356007083301452; 01 Điện thoại di động màu trắng bạc, có chữ Iphone gắn sim số: 0898129184, số Imel: 359217072915843; 5.000.000 đồng (năm triệu đồng); 01 Giấy chứng minh nhân dân số 241388924 mang tên Nguyễn P H . (bút lục: 35 – 41)

Lúc 16 giờ ngày 18/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp số 37/PC47 ngày 18/7/2017 tại chỗ ở của H tại Lý Thái Tổ, phường Cẩm Châu, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nhưng không thu giữ thêm tang vật gì. (bút lục: 42, 43)

Qua điều tra, H khai nhận: Vào cuối tháng 6/2017, để có ma túy sử dụng, Hậu sử dụng điện thoại di động Iphone gắn sim số: 0898129184 liên lạc với người tên Vũ (không xác định được nhân thân lai lịch) mua 48 viên ma túy thuốc lắc (với giá 250.000 đồng một viên) và 1.000.000 đồng ma túy loại Ketamine tại đường Nguyễn Lương Bằng, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Sau khi mua ma túy, H cùng với nhóm bạn bè (không rõ nhân thân lai lịch) sử dụng hết 03 viên ma túy thuốc lắc tại quán karaoke (không rõ địa chỉ và tên quán) ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đến 23 giờ ngày 17/7/2017, H giấu 09 viên ma túy thuốc lắc, 02 gói ma túy Ketamine trong người và cất giấu 36 viên ma túy thuốc lắc trong xe ô tô hiệu KIA màu trắng biển kiểm soát 92A- 088… rồi rủ Trương T P (sinh năm: 1993, HKTT: Tổ 19 An Hòa, phường Sơn Phong, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam) đi ra Đà Nẵng chơi. Khi đến thành phố Đà Nẵng, H gọi điện rủ thêm Trần P Đ (sinh năm: 19 , HKTT: Điện Biên Phủ, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) đi hát Karaoke tại quán K đường Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Tại phòng Vip 7 quán K, Hậu sử dụng 01 viên thuốc lắc và đưa cho Đ và P mỗi người 01 viên ma túy thuốc lắc để sử dụng. Đến 02 giờ 15 phút ngày 18/7/2017, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đà Nẵng đến kiểm tra phòng Vip 7 quán K bắt quả tang Nguyễn P H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Lúc bắt quả tang có Trương T P và Trần P Đ nên Cơ quan Công an mời về trụ sở làm việc. Qua điều tra, P và Đ không biết việc H cất giấu ma túy. (bút lục: 64-76; 95-99; 106-110)

Qua thử text, Nguyễn P H , Trương T P và Trần P Đ dương tính với ma túy tổng hợp. (59, 91, 102)

Tại Bản kết luận giám định số 422/GĐ-MT ngày 26/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

“- Mẫu viên nén ký hiệu A1, C1, C2 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, trọng lượng: Mẫu A1: 1,968 gam; mẫu C1: 3,167 gam; mẫu C2: 8,964 gam.

- Mẫu chất bột ký hiệu A2, B gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, trọng lượng mẫu A2: 0,365 gam; B: 0,224 gam”. (bút lục 47)

Như vậy, tổng trọng lượng các chất ma túy ở thể rắn Nguyễn P H tàng trữ để sử dụng là: (A1: 1,968) + (C1: 3,167) + (C2: 8,964) + (A2: 0,365) + (B: 0,224) = 14,688 gam.

Vật chứng thu giữ: 01 Điện thoại di động màu trắng đục, có chữ Nokia gắn sim số: 0942797000, số Imel 1: 356007083301445, số Imel 2: 356007083301452; 01 Điện thoại di động màu trắng bạc, có chữ Iphone gắn sim số: 0898129184, số Imel: 359217072915843; 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);

01 Giấy chứng minh nhân dân số 241388924 mang tên Nguyễn P H và mẫu vật là ma túy hoàn trả sau giám định đựng trong 01 (một) bì niêm số 422 theo Kết luận giám định số 422/GĐ-MT ngày 26/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng. Tất cả hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (bút lục: 119)

Đối với 01 xe ô tô BKS: 92A-088…, nhãn hiệu KIA, số khung: IM6FC56327, số máy: G4FGFS861012 do chị Nguyễn T H (sinh năm: 19 , HKTT: Tổ A phường Tân An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam – là em ruột của H ) đứng tên chủ sở hữu. Vào tối ngày 17/7/2017, H mượn xe đi có việc, chị H không biết H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng trả lại xe ô tô nêu trên cho chị H là đúng pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 147/QĐ- KSĐT ngày 27/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn P H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 .

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn P H . Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn P H từ 18 (mười tám) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Đồng thời áp dụng khoản 5 Điều 194 BLHS, xử phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Nguyễn P H từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật là ma túy hoàn trả sau giám định đựng trong 01 (một) bì niêm số 422 theo Kết luận giám định số 422/GĐ-MT ngày 26/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng .

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 Điện thoại di động màu trắng bạc, có chữ Iphone gắn sim số: 0898129184, số Imel: 359217072915843.

Tuyên trả cho bị cáo H 01 Điện thoại di động màu trắng đục, có chữ Nokia gắn sim số: 0942797000, số Imel 1: 356007083301445, số Imel 2: 356007083301452..

Tuyên trả cho bị cáo Hậu số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nhưng tiếp tục được quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Tuyên trả cho bị cáo H 01 Giấy chứng minh nhân dân số 241388924 mang tên Nguyễn P H .

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết qủa tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

XÉT THẤY

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Vào cuối tháng 6/2017 để có ma túy sử dụng, H sử dụng điện thoại di động Iphone gắn sim số: 0898129184 liên lạc với người tên Vũ (không xác định được nhân thân lai lịch) mua 48 viên ma túy thuốc lắc (với giá 250.000 đồng một viên) và 1.000.000 đồng ma túy loại Ketamine tại đường Nguyễn Lương Bằng, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Sau khi mua ma túy, H cùng với nhóm bạn bè (không rõ nhân thân lai lịch) sử dụng hết 03 viên ma túy thuốc lắc tại quán karaoke (không rõ địa chỉ và tên quán) ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Đến 23 giờ ngày 17/7/2017 H giấu 09 viên ma túy thuốc lắc, 02 gói ma túy Ketamine trong người và cất giấu 36 viên ma túy thuốc lắc trong xe ô tô hiệu KIA màu trắng biển kiểm soát 92A-088… rồi rủ Trương T P , Trần P Đ đi hát Karaoke tại quán K Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Tại phòng Vip 7 quán K , H sử dụng 01 viên thuốc lắc và đưa cho Đ và P mỗi người 01 viên ma túy thuốc lắc để sử dụng. Đến 02 giờ 15 phút ngày 18/7/2017, thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đà Nẵng bắt quả tang. Trọng lượng ma túy mà bị cáo H tàng trữ trái phép 14,688 gam ma túy (trong đó có: 14,099 gam ma túy loại MDMA và 0,589 gam ma túy loại Ketamine).

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn P H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án thì thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, giết người ... làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, phát thanh, truyền hình ... Các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng đưa ra xét xử nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này nhằm răn đe phòng ngừa.

Bị cáo nhận thức rõ được những tác hại đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu hút chích của bản thân nên bị cáo đã có hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo khi lượng hình. Bị cáo phạm tội tại thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định: “ Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới…và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.”. Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm; tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm. Như vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đối với trường hợp này là đúng theo tinh thần của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015.

* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt tiền bị cáo Nguyễn P H 5.000.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng:

Đối với mẫu vật là ma túy hoàn trả sau giám định đựng trong 01 (một) bì niêm số 422 theo Kết luận giám định số 422/GĐ-MT ngày 26/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng, đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 Điện thoại di động màu trắng bạc, có chữ Iphone gắn sim số: 0898129184, số Imel: 359217072915843 là phương tiện dùng để liên lạc trong quá trình mua ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 Điện thoại di động màu trắng đục, có chữ Nokia gắn sim số: 0942797000, số Imel 1: 356007083301445, số Imel 2: 356007083301452 không liên quan đến vụ án do đó cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục được quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án do đó cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục được quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với 01 Giấy chứng minh nhân dân số 241388924 mang tên Nguyễn P H là giấy tờ tùy thân của bị cáo do đó trả lại cho bị cáo.

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2017).

Đối với 01 xe ô tô BKS: 92A-08…., nhãn hiệu KIA, số khung: IM6FC56327, số máy: G4FGFS861012 do chị Nguyễn T H (sinh năm: 19 , HKTT: Tổ a phường Tân An, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam – là em ruột của H ) đứng tên chủ sở hữu. Vào tối ngày 17/7/2017, Hậu mượn xe đi có việc, chị H không biết H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng trả lại xe ô tô nêu trên cho chị H là đúng pháp luật.

Đối với Trương T P , Nguyễn P H và Trần P Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an quận Thanh Khê đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng pháp luật.

Đối với đối tượng tên Vũ bán ma túy cho H nhưng chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép 03 viên thuốc lắc của Nguyễn P H cùng với nhóm bạn (không rõ nhân thân lai lịch) tại quán karaoke (không rõ địa chỉ, tên quán) ở thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, do không đủ cơ sở để chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng không đề cập đến là có căn cứ.

Đối với Khu văn hóa du lịch K Điện Biên Phủ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, do bà Đỗ T T T làm giám đốc không biết việc Nguyễn P H đem ma túy thuốc lắc vào phòng Vip 7 để sử dụng, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng không đề cập xử lý là có cơ sở.

* Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn P H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 và khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn P H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (18/7/2017).

Phạt tiền bổ sung bị cáo Nguyễn P H : 5.000.000 đồng.

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 BLTTHS;

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật là ma túy hoàn trả sau giám định đựng trong 01 (một) bì niêm số 422 theo Kết luận giám định số 422/GĐ-MT ngày 26/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 Điện thoại di động màu trắng bạc, có chữ Iphone gắn sim số: 0898129184, số Imel: 359217072915843.

- Tuyên trả cho bị cáo H 01 Điện thoại di động màu trắng đục, có chữ Nokia gắn sim số: 0942797000, số Imel 1: 356007083301445, số Imel 2:356007083301452 nhưng tiếp tục được quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Tuyên trả cho bị cáo H số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) nhưng tiếp tục được quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Tuyên trả cho bị cáo H 01 Giấy chứng minh nhân dân số 241388924 mang tên Nguyễn P H .

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện nay do Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2017).

3/ Về án phí: - Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn P H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt thì hàng tháng phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.


83
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về