Bản án 135/2020/HNGĐ-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 135/2020/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 637/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị V, sinh năm 1983; địa chỉ: Số nhà 89 khu phố Đ2, phường A, thành phố D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Cao Văn N, sinh năm 1987; địa chỉ: Số nhà 89 khu phố Đ2, phường A, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 24/6/2020 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Cao Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị V và anh Cao Văn N sau thời gian tìm hiểu khoảng 02 năm thì tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2018, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 01/11/2018. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra, anh Nhật không có trách nhiệm với gia đình. Mặc dù chị V đã cố gắng hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả do anh N không thay đổi. Nay chị V xác định không còn tình cảm với anh N nên yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Cao Đức B, sinh ngày 14/7/2018. Sau khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp chứng cứ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh B tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ngày 27/8/2020, nguyên đơn có đơn yêu câu giải quyết văng măt . Bị đơn anh Cao Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 14/9/2020 và ngày 30/9/2020 nhưng anh Cao Văn N vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị V và anh Cao Văn N tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 97, ngày 01/11/2018, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chị V và anh N chung sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra, anh N không có trách nhiệm với gia đình. Mặc dù chị V đã cố gắng hàn gắn gia đình nhưng không có kết quả. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh N đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh N không có mặt.

[3] Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc anh N không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp lời khai và chứng cứ để chứng minh quan hệ hôn nhân chưa đến mức trầm trọng; mặt khác anh N cũng không quan tâm đến hòa giải để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị V cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị V yêu cầu ly hôn với anh N là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị V yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Cao Đức B, sinh ngày 14/7/2018. Xét thấy, trong thời gian trước đây và hiện nay con chung do chị V trực tiếp nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Mặt khác, cháu hiện còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Do đó, chị V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị V không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị nên Tòa án ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố D, tỉnh B.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị V đối với anh Cao Văn N về việc ly hôn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị V được ly hôn với anh Cao Văn N.

Về con chung: Anh Cao Văn N giao con chung tên Cao Đức B, sinh ngày 14/7/2018 cho chị Cao Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Cao Thị V không yêu cầu anh Cao Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Cao Thị V và anh Cao Văn N đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trường hợp anh N lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc chị V nuôi con thì chị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh N theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Cao Thị V không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghin đông) án phí về ly hôn đươc khấu trư hết vào tiền tạm ứng án phí đã nôp theo biên lai sô 0040886 ngày 08/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố D, tỉnh B.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 135/2020/HNGĐ-ST ngày 30/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:135/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về