Bản án 135/2020/HNGĐ-ST ngày 05/10/2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 135/2020/HNGĐ-ST NGÀY 05/10/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 05 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm thụ lý số: 326/ 2020/ TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020, về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 148/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 9 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 108/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Th, sinh năm 1990.

Địa chỉ: ấp M 1, xã P, huyện H, tỉnh L Bị đơn: Anh Trần Thái H, sinh năm 1983 ( Vắng mặt). Địa chỉ: ấp M 1, xã P, huyện H, tỉnh L

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 7 năm 2020 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Đoàn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua quen biết chị và anh H tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đồng Nai, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 01/10/2008, sau khi cưới anh chị thuê nhà trọ sống tại thành phố Hồ Chí Minh để đi làm. Đến năm 2011 phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân do anh H ăn chơi, cờ bạc không lo cho vợ con, anh H làm bao nhiêu tiền thì tiêu xài bấy nhiêu, nhiều lẩn khuyên nhưng anh H không nghe, vì con nên chị cố gắng chịu đựng để anh sửa đổi nhưng anh không thay đổi, mỗi lần khuyên thì anh H kiếm chuyện, có lúc còn hành hung chị, có thời gian chị bỏ đi nhưng anh H năn nỉ nên chị quay về đoàn tụ, nhưng khi về lại xảy ra mâu thuẩn. Mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên chị đã ra sống riêng từ tháng 5/2020 cho đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 02 con chung là Trần Đoàn Thái B, sinh ngày 28/4/2009 và Trần Thái B, sinh ngày 05/5/2014, chị yêu cầu nuôi 02 con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

-Bị đơn là anh Trần Thái H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng không có bản khai ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ gì.

-Ý kiến của cháu Trần Đoàn Thái B: Cháu là con của chị T và anh H. Khi cha mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu là ở với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Trần Thái H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh H.

[2]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh Lâm Đồng cấp giấy chứng nhận kết số 66 vào ngày 01/10/2008. Do đó hôn nhân của chị T và anh H là hôn nhân hợp pháp.

[3]. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Chị T trình bày trong cuộc sống vợ chồng giữa anh chị có những bất đồng, xuất phát từ việc anh H ăn chơi cồ bạc, không lo cho vợ con, không lo cho kinh tế gia đình, mặc dù chị đã nhiều lần khuyên và cho anh H cơ hội sửa đổi nhưng anh không thay đổi. Mâu thuẩn ngày càng trầm trọng nên chị đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Tại phiên Tòa chị vẫn bảo lưu yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, chung sống với nhau. Nhưng chị T và anh H trong cuộc sống có những mâu thuẩn không thể khắc phục được, tình trạng này kéo dài đã nhiều năm. Hiện tại anh chị không còn chung sống quan tâm chăm sóc lẩn nhau, cho thấy tình cảm vợ chồng của anh chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Anh H đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng anh không có ý kiến gì, tại phiên tòa anh H vắng mặt, xem như anh cũng đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Từ những nhận định trên cho thấy việc chị T yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4]. Về con chung: Chị T có yêu cầu nuôi 02 con, nguyện vọng của cháu B là được sống cùng chị T, anh H không có ý kiến. Do đó nên giao 02 cháu B, B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[6]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[7]. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[8]. Về án phí: Buộc chị T phải nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đoàn Thị T được ly hôn với anh Trần Thái H.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Đoàn Thái B, sinh ngày 28/4/2009 và Trần Thái B, sinh ngày 05/5/2014 cho chị Đoàn Thị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trần Thái H có quyền tới lui thăm nom và chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Buộc chị Đoàn Thị T nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai số 0005957 ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ nên được khấu trừ.

7. Quyền kháng cáo: Án xử có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 135/2020/HNGĐ-ST ngày 05/10/2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:135/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về