Bản án 135/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 135/2019/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 15 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện XM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2019/TLST-HNGD ngày 15 tháng 5 năm 2019 vệ “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2019/QDXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 116/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị B, sinh năm: 1981 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Bình An, xã BC, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Bình An, xã BC, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2019 bản khai và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn - Bà Dương Thị B trình bày:

Bà B xây dựng gia đình với ông Nhứt vào năm 1998 nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Ngũ Lạc, huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, được sự đồng ý của hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới, trước khi cưới có tìm hiểu nhau một thời gian. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân ông N hay nhậu nhẹt không có trách nhiệm với vợ con, ngoài ra bà B và ông N còn bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, lúc nóng giận ông N có đánh đập bà B. Bà B và ông N đã cố gắng hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng được sống hạnh phúc nhưng mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng. Hiện nay bà B và ông N đã ly thân, mạnh ai nấy sống không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông Nhứt.

Về con chung: Bà B và ông Nhứt có 02 con chung tên Bùi Văn Hải, sinh ngày 19/9/1998 và Bùi Thị Mỹ Phượng, sinh ngày 19/5/2002. Hiện cháu Hải đã trưởng thành, còn cháu Phượng đang sống với ông N. Bà B đồng ý để ông Nhứt được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phượng, bà B không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập ông Bùi Văn N đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông N vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại các phiên Tòa ông N đều vắng mặt không có lý do.

Phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc trước đây cũng như tại các phiên tòa là chưa chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Bà Dương Thị B yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Bùi Văn N, đây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Bùi Văn N có nơi cư trú tại địa bàn huyện XM theo điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Bùi Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Vì vậy việc xét xử vắng mặt ông N là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà B và ông N xây dựng gia đình vào năm 1998 nhưng đến năm 2008 mới đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 45, quyển số 01 ngày 12/02/2008 tại UBND xã NL, huyện DH, tỉnh TV), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà B và ông N chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bà B và ông N bất đồng quan điểm nên thường phát sinh cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, bà B và ông N đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi.

Kết quả xác minh tại địa phương: Do bà B và ông N không hòa giải ở cơ sở nên địa phương không nắm được mâu thuẫn của bà B và ông N. Xét yêu cầu của bà B cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà B và ông N phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc và cùng nhau chăm sóc nuôi dạy con cái nhưng hiện nay bà B và ông N ly thân, mạnh ai nấy sống, không quan tâm gì đến nhau. Sau khi bà B gửi đơn, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, ông N vắng mặt không lý do, không thể hiện có thiện chí hòa giải.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của bà B và ông N thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà B đối với ông N.

[3] Về con chung: Bòn và ông Nhứt có 02 con chung, cháu Bùi Văn Hải, sinh ngày 19/9/1998 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xét yêu cầu của bà B đối với cháu Bùi Thị Mỹ P cho thấy từ khi bà B nộp đơn cho đến nay ông N không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc nuôi dưỡng cháu Phượng. Tuy nhiên hiện cháu Phượng đang sống cùng ông N, bà B đồng ý để ông N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phượng và cháu Phượng có nguyện vọng sống cùng ông N. Do đó để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên giao cháu Phượng cho ông N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Hiện tại ông N chưa có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án chưa xem xét. Nếu sau này các bên có tranh chấp về vấn đề nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1, Điều 28, điểm a, Khoản 1, Điều 35, điểm a, Khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Dương Thị B đối với ông Bùi Văn N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị B được ly hôn với ông Bùi Văn N.

2. Về con chung: Bà B và ông N có 02 con chung tên Bùi Văn Hải, sinh ngày 19/9/1998 và Bùi Thị Mỹ Phượng, sinh ngày 19/5/2002. Hiện cháu Hải đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông Bùi Văn N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thị Mỹ P. Bà B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Dương Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà B không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Bà Dương Thị B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà B đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008092 ngày 15/5/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà B đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tụ nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thục hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 135/2019/HNGĐ-ST ngày 15/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:135/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về