Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 134/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ TRANH CHẤP NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN CỦA NAM, NỮ CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 514/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2019, về việc tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị K, sinh năm: 1977 (có mặt)

Địa chỉ: Số 184, đường K, khóm M, phường S, thành phố C, tỉnh C.

- Bị đơn: Anh Trần Thiện P, sinh năm: 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 184, đường K, khóm M, phường S, thành phố C, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị K và anh Trần Thiện P sống chung với nhau từ năm 1996 có tổ chức cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống cả hai xác định có phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng ý kiến nên, cuộc sống không hòa hợp nên đã ly thân với nhau từ năm 2009 đến nay, hiện chị K xác định mâu thuẫn đã trầm trọng nên yêu cầu chấm dứt hôn nhân đối với anh P. Đối với anh P cũng có văn bản xác định mâu thuẫn đã trầm trọng nên đồng ý chấm dứt hôn nhân với chị K.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Thùy V, sinh ngày 09/11/1999 và Trần Phú Q, sinh ngày 21/5/2005. Khi ly hôn, đối với Trần Thùy V đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn đối với Trần Phú Q, hiện nay đang sống chung với chị K, chị yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Q, không đề cập đến trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của anh P. Đối với anh P có ý kiến trình bày thống nhất giao con cho chị K không đặc ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ: Chị K, anh P xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị K đối với anh Trần Thiện P được xác định là tranh chấp về việc tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Trần Thiện P có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin khước từ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Trần Thiện P.

[2] Về nội dung: Xét đơn khởi kiện của chị Huỳnh Thị K thấy ràng chị K và anh P chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên quá trình chung sống của chị K và anh P có phát sinh mâu thuẫn, cả hai anh, chị đồng ý chấm dứt hôn nhân thì Tòa tuyên bố không công nhận là vợ chồng theo quy định tại Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Thùy V, sinh ngày 09/11/1999 và Trần Phú Q, sinh ngày 21/5/2005. Đối với Trần Thùy V đã trưởng thành nên không đề cập xem xét việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Đối với Trần Phú Q, hiện nay cháu Q đang sống chung với chị K, anh P và chị K đều thống nhất tiếp tục giao cháu Q cho chị K trực tiếp nuôi, không đề cập đến trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con của anh P. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và đúng nguyện vọng của cháu Q, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị K, anh P đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Chị K phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 36, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Pháp lệnh án phí và lệ phí Tòa án; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1/ Về hôn nhân: Không công nhận chị Huỳnh Thị K và anh Trần Thiện P là vợ chồng.

2/ Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận về việc giao cháu Trần Phú Q, sinh ngày 21/5/2005 cho chị Huỳnh Thị K tiếp tục nuôi, không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh P. Anh P vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đặt ra giải quyết;

4/ Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000đ, chị Huỳnh Thị K phải nộp. Chị K đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ theo biên lai số 0000264 vào ngày 10/6/2019, được đối trừ, chị K đã nộp đủ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị K có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về tranh chấp nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Số hiệu:134/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về