Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 134/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2019/QĐXX-ST ngày 06 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tống Thị Cẩm L, sinh năm 1985 (có yêu cầu xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp BB, xã LTT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn N, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp NH, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 04/7/2019 chị Tống Thị Cẩm L trình bày:

Chị L và anh N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LTT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/02/2010. Thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường cãi nhau do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên ly thân từ năm 2016 đến nay. Vì vậy, chị L yêu cầu ly hôn với anh N.

Con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị L không yêu cầu giải quyết.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Chị L và anh N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Thời gian chung sống, chị L và anh N phát sinh mâu thuẫn không thể tiếp tục chung sống được với nhau nên chị L yêu cầu ly hôn với anh N. Do đó, áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị L và anh N được ly hôn; con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:

[1] Chị Tống Thị Cẩm L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Trần Văn N. Do chị L và anh N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh N có địa chỉ tại ấp NH, xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh N nhưng anh N không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị L và vắng mặt tại phiên họp và hòa giải không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh N nhưng anh N vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với chị Tống Thị Cẩm L có yêu cầu xin vắng mặt tại vụ án và trực tiếp nộp tại Tòa án vào ngày 06/8/2019 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị Tống Thị Cẩm L và anh Trần Văn N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LTT, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 01/02/2010. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh N đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện chị L yêu cầu ly hôn với anh N. Vì chị L cho rằng thời gian chung sống anh chị thường hay cự cãi làm phát sinh mâu thuẫn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân nên anh chị đã ly thân từ năm 2016 đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để chị L và anh N có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh N vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Tống Thị Cẩm L và anh Trần Văn N được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị L xác định thời gian chung sống chị L và anh N không có tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về nợ chung: Xét thấy, tại đơn khởi kiện chị L xác định thời gian chung sống vợ chồng không có nợ chung là có căn cứ. Bởi vì, tại đơn xác nhận ngày 04/7/2019 của Ủy ban nhân dân xã TB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận vợ chồng chị L và anh N không bị ai thưa kiện về nợ tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tống Thị Cẩm L phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Xét xử vắng mặt đối với chị Tống Thị Cẩm L và anh Trần Văn N.

2.Về hôn nhân: Chị Tống Thị Cẩm L và anh Trần Văn N được ly hôn.

3. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Tống Thị Cẩm L phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 04 tháng 7 năm 2019 chị L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010523 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 134/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn

Số hiệu:134/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về