Bản án 134/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 134/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 19 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 444/2018/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2018/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2018/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bùi Văn Gi; Địa chỉ: Thôn Th, xã D, huyện Th , thành phố Hải Phòng. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Bùi Thị X; Địa chỉ:Thôn T, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 24 tháng 5 năm 2018 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, nguyên đơn là anh Bùi Văn Gi trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Bùi Thị X kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10 tháng 9 năm 2001 tại Ủy ban nhân dân xãDương Quan, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh và chị X chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau. Mâu thuẫn hai vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Anh và chị X đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Anh Gi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, anh Gi yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị X.

Về con chung: Anh Bùi Văn Gi khai vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Thị Thu sinh năm 2002 và Bùi Văn Tùng sinh năm 2004. Từ khi ly thân, cháu Thu và cháu Tùngđang do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp ly hôn anh đề nghị anh tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Bùi Văn Gi khai vợ chồng không có tài sản chung và không có vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là chị Bùi Thị X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai chị X vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn là chị Bùi Thị X chưa tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu điều tra có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn Gi và chị Bùi Thị X đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử anh Bùi Văn Gi được ly hôn chị Bùi Thị X. Giao con chung tên Bùi Thị Thu sinh ngày 12/8/2002 và Bùi Văn Tùng sinh ngày 25/4/2004 cho anh Gi tiếp tục nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung anh Gi không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Bùi Văn Gi và chị Bùi Thị X là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay, trong thời gian ly thân hai bên không còn quan tâm đến nhau mặc dù đã được người thân hai bên gia đình hòa giải. Mặt khác, chị Bùi Thị X biết rõ anh Gi xin ly hôn, Tòa án đã triệu tập chị X nhiều lần nhưng chị X vẫn vắng mặt thể hiện chị X không mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa anh Gi và chị X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho anh Bùi Văn Gi và chị Bùi Thị X được ly hôn anh Nguyễn Văn Nam.

 [2] Về con chung: Anh Bùi Văn Gi và chị Bùi Thị X có hai con chung là cháu Bùi Thị Thu sinh ngày 12/8/2002 và Bùi Văn Tùng sinh ngày 25/4/2004. Hiện cháu Bùi Thị Thu và cháu Bùi Văn Tùng đang do anh Gi trực tiếp nuôi dưỡng. Trong trường hợp ly hôn, anh Gi xin được được tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Việc giao con cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Tài liệu xác minh thể hiện từ khi vợ chồng anh Gi, chị X sống ly thân nhau từ đầu năm 2018 đến nay anh Gi vẫn trực tiếp nuôi con, việc nuôi con của anh Gi vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt và đã ổn định. Vì vậy cần giao cho anh Gi trực tiếp nuôi con là phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

 [3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Anh Bùi Văn Gi không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

 [4] Về tài sản chung: Anh Bùi Văn Gi khai vợ chồng không có tài sản chung không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều51, Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn Gi được ly hôn chị Bùi Thị X.

2. Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Thu sinh ngày 12/8/2002 và Bùi Văn Tùng sinh ngày 25/4/2004 cho anh Bùi Văn Gi trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Bùi Thị Thu và Bùi Văn Tùng đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nomcon mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Anh Bùi Văn Gi phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí anh Gi đã nộp theo biên lai số 0009130 ngày 25/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 134/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:134/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về