Bản án 133/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 133/2020/HS-ST NGÀY 30/11/2020 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 166/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

LÂM MINH C ; sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Phường N, Quận B, Tp. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Du L và bà: Cao Thị Phi Y; vợ: Võ Nguyên H, con: 01 người (sinh năm 2019); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân : Bản án số 102/2009/HS-ST ngày 29/5/2009 Toà án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội ”Cướp giật tài sản”; tạm giam: 07/6/2020 (Có mặt)

- Bị hại: Chị Sa Lê Hoàng T, sinh năm 1993 ; HKTT : phường A, thị xã B, tnh Đăk Lăk; địa chỉ cư trú : Phường H, quận B, Tp. Hồ Chí Minh. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 18/9/2019, Lâm Minh C truy cập mạng Facebook, thấy tài khoản “Hằng Ớt” chia sẻ thông tin muốn chuyển hàng hóa cho người mua thì đem đến Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Tiếp vận Quốc Tế H&H, đường B, Phường H, quận T, sẽ có nhân viên tên “Ni” (tên thật Sa Lê Hoàng T) nhận hàng hóa và thanh toán tiền trước. Do thất nghiệp, cần tiền tiêu xài cá nhân, nên C nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T.

C lấy quần áo cũ không có giá trị cho vào túi nilông màu đen, dán phiếu giao hàng bên ngoài có ghi nội dung đơn hàng, tên cửa hàng, người nhận là “Hằng Ớt”, giá trị hàng hóa là 227.000 đồng, đồng thời lấy dấu đỏ chữ “COD” đóng lên phiếu giao hàng, để cho chị T tin tưởng. Trước khi đến gặp chị T, C gọi điện thoại, liên lạc trước nói cần giao hàng cho “Hằng Ớt”, sau đó C mặc đồ Grabbike, điều khiển xe máy Honda Wave màu đỏ biển số 51Y3- 7797 đến Công ty H&H gặp chị T, nói giao hàng cho “Hằng Ớt”, chị T không hỏi gì, cũng không kiểm tra bên trong gói hàng mà chỉ xem giá tiền trên phiếu giao hàng, rồi lấy 227.000 đồng đưa cho C.

Nhận thấy việc chiếm đoạt tiền của chị T dễ dàng và đơn giản, nên cũng bằng các thủ đoạn tương tự như trên, C đã liên tiếp thực hiện nhiều lần việc chiếm đoạt tiền của chị T, cụ thể: lần 2, cũng trong ngày 18/9/2019, chiếm đoạt 1.395.000 đồng; lần 3, ngày 19/9/2019, chiếm đoạt số tiền 3.075.000 đồng; lần 4, ngày 20/9/2019, chiếm đoạt được số tiền 5.440.000 đồng; lần 5, ngày 21/9/2019, chiếm đoạt được số tiền 3.940.000 đồng; lần 6, ngày 23/9/2019, chiếm đoạt được số tiền 3.650.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt trên, C đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 24/9/2019, vẫn với thủ đoạn như trên, C tiếp tục mang 01 gói hàng, trị giá trên phiếu là 9.825.000 đồng, người nhận vẫn là “Hằng Ớt” đến Công ty H&H giao cho chị T, nhưng chị T nói gói hàng này không phải của “Hằng Ớt” nên không nhận, do đó C đem gói hàng này về nhà cất giữ.

Đến ngày 27/9/2019, thông qua số điện thoại 0839272222 của chị T, C biết được Facebook của chị T, C sử dụng điện thoại, tạo nick facebook tên “Miên Đỗ Mộc” (chuyên kinh doanh buôn bán quần áo, mỹ phẩm, hình đại diện là một người phụ nữ lấy trên mạng, tên đăng nhập là “lamminhcuong”, mật khẩu thì C không còn nhớ), nhắn tin kết bạn với chị T. Sau đó, C và chị T nhắn tin trao đổi bằng Messenger (ứng dụng của Facebook). C lừa dối chị T nói đang sống tại Đài Loan, muốn đặt mua hàng quần áo, mỹ phẩm từ Việt Nam về Đài Loan để bán lại và đề nghị chị T khi nhận hàng thì trả tiền hàng trước, sau khi nhận đủ hàng thì C sẽ chuyển khoản thanh toán đủ tiền hàng cho chị T sau, việc nhận hàng sẽ diễn ra nhiều đợt, sau khi C xác nhận chốt đơn hàng thì chị T sẽ gửi hàng 01 lần và C sẽ cung cấp địa chỉ nơi nhận sau, chị T đồng ý. Tiếp đó, C nói với chị T trong ngày 28/9/2019, sẽ cho người giao tới 3 gói hàng (sáng giao 1 gói hàng giá tiền 4.700.000 đồng, chiều giao 2 gói hàng có giá tiền là 2.870.000 đồng và 3.100.000 đồng).

Trong ngày 28/9/2019, C tiếp tục lấy quần áo cũ không có giá trị đóng gói, bên ngoài có dán phiếu giao hàng, ghi thông tin của các shop bán hàng online và kê giá tiền như đã thỏa thuận với chị T, chiếm đoạt thành công của chị T số tiền 10.670.000 đồng, C đem về đưa cho vợ là Võ Nguyên H 7.000.000 đồng để trả tiền thuê nhà trọ và tiêu dùng, số còn lại tiêu xài cá nhân hết.

C tiếp tục dùng nhắn tin qua Messenger cho chị T, với nội dung sáng 30/9/2019 sẽ cho người tới giao 01 gói hàng, giá tiền 6.280.000 đồng và được chị T xác nhận. Đến trưa ngày 30/9/2019, C mặc đồ Grabbike, điều khiển xe máy, chở theo 01 gói hàng đến giao cho chị T nhưng do đã nghi ngờ bị lừa đảo từ trước, chị T nói với C kế toán chưa đến và hẹn đầu giờ chiều quay lại. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, C quay lại giao gói hàng trên thì bị chị T và nhân viên Công ty H&H tiến hành bắt giữ, C lấy trong túi áo khoác bên trái ra 01 cây dùi đục cầm trên tay trái mục đích để hù dọa nhằm tẩu thoát nhưng bị khống chế, bắt giữ giao Công an xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, Lâm Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Lời khai của C phù hợp với lời khai của chị T, tài liệu chứng cứ khác và vật chứng thu giữ trong vụ án. Tổng số tiền C lừa đảo chiếm đoạt được của chị T là 28.397.000 đồng.

Chị T khai số tiền bị C chiếm đoạt trên là của cá nhân do đây là lĩnh vực chị T kinh doanh riêng không liên quan công ty, đồng thời chị T yêu cầu Lâm Minh C bồi thường lại số tiền đã chiếm đoạt.

Vật chứng: 01 gói hàng màu đen, bên ngoài dán phiếu có nội dung “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm Ms Ni 0839272222, trị giá 6.280.000 đồng, có đóng dấu COD màu đỏ, đã được niêm phong.

- 01 áo khoác hiệu Grab màu xanh đen và 01 nón bảo hiểm hiệu Grab màu xanh trắng, đã qua sử dụng, 01 nón lưỡi trai hiệu Adidas màu đen.

- 01 xe mô tô hiệu Wave LiFan màu đỏ, biển số: 51Y3 – 7797, Lâm Minh C khai, mua xe cũ của người khác đã lâu, không làm giấy tờ mua bán. Qua điều tra, chưa làm rõ được tình trạng chuyển nhượng sở hữu xe.

- 01 dùi đục cán gỗ kích thước 23cm x 2,5cm, C sử dụng đe dọa người khác và 01 ống kim loại màu trắng dài khoảng 55cm, đường kính ống 02cm, thu giữ của người dân dùng để khống chế bị can.

- 01 USB hiệu Apacer màu đen chứa dữ liệu ảnh chụp màn hình nội dung tin nhắn trò chuyện qua ứng dụng Messenger giữa Facebook “Sa Lê Hoàng T” và Facebook “Miên Đỗ Mộc”.

- 01 USB màu đỏ dung lượng 4Gb chứa dữ liệu hình ảnh camera Lâm Minh C lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 30/9/2019.

- 01 USB màu xanh dương hiệu DT101G2 dung lượng 04Gb chứa dữ liệu ảnh chụp các gói hàng thanh niên mặc đồ Grab giao và chiếm đoạt tiền của chị Sa Lê Hoàng T từ ngày 18/9/2019 đến ngày 23/9/2019.

Thu giữ tại nơi ở của C: 01 gói hàng màu đen, bên ngoài dán phiếu giao hàng có nội dung “TRINH LE 0906955700-0933135931, người nhận tên Hằng Ớt - Điện thoại: 0839272222 (gặp Ms Ny) địa chỉ: đường D, Phường H, Quận T” và phiếu có nội dung “đường C, Phường A, Quận B thu hộ 9.825.000 đ – người nhận Hằng Ớt đường D, Phường H, Quận T - ĐT: 0839272222” (cả 2 phiếu đều có đóng dấu COD màu đỏ) đã được niêm phong;

- 01 con dấu hình chữ nhật màu đỏ có ghi chữ “COD”.

Chị T giao nộp: 01 gói hàng màu đen bên ngoài có dán phiếu “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm là Ms Ni 0839272222 trị giá 4.700.000đ”; 01 cục hàng bên ngoài ghi nội dung “Serum Kem ốc sên body collagen, TC: 2.870.000đ” bằng bút lông màu xanh; 01 gói hàng màu xanh dương bên ngoài có dán phiếu “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P,, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm là Ms Ni 0839272222 trị giá 3.100.000đ”.

Ngoài ra, thu giữ của C 01 điện thoại di động màu đen hiệu Philips E103, khi bắt truy nã.

Đối với Võ Nguyên H, quá trình điều tra xác định không phải là đồng phạm nên không khởi tố xử lý.

Tại bản cáo trạng số 149/CT-VKS ngày 03 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Lâm Minh C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Sa Lê Hoàng T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 28.397.000 đồng, bị cáo đồng ý.

- Về vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời bị cáo khai nhận, do thất nghiệp, vợ bị bệnh, cần tiền để trả tiền thuê nhà trọ và chi phí tiêu xài gia đình nên bị cáo nảy sinh ý định và đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T như cáo trạng đã nêu.

Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, bào chữa mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lâm Minh C, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của cáo người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Minh C đã dùng thủ đoạn gian dối lợi dụng thông tin qua mạng xã hội facebook để giao dịch đặt hàng, giao hàng để chiếm đoạt số tiền 28.397.000 đồng của chị Sa Lê Hoàng T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết có tính chất chuyên nghiệp” (do bị cáo không có nghề nghiệp, liên tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T, cụ thể : ngày 18/9/2019 là 227.000 đồng; ngày 18/9/2019 là 1.395.000 đồng; ngày 19/9/2019 là 3.075.000 đồng; ngày 20/9/2019 là 5.440.000 đồng; ngày 21/9/2019 là 3.940.000; ngày 23/9/2019 là 3.650.000 và ngày 28/9/2019 là 10.670.000 đồng và lấy tiền chiếm đoạt được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính), tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, lười lao động, muốn thụ hưởng trên công sức lao động của người khác mà bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật, nhân thân bị cáo là xấu bị cáo đã bị xét xử về tội cướp giật tài sản Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Sa Lê Hoàng T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 28.397.000 đồng, tại phiên toà bị cáo đồng ý. Hội đồng xét xử buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị T số tiền 28.397.000 đồng.

[5] Về tang vật vụ án:

- 01 áo khoác hiệu Grab màu xanh đen và 01 nón bảo hiểm hiệu Grab màu xanh trắng, đã qua sử dụng, 01 nón lưỡi trai hiệu Adidas màu đen bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 xe mô tô hiệu Wave LiFan màu đỏ, biển số: 51Y3 – 7797 số máy DT1P50FMG-3000507, số khung VDTLCG012DT000507 bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng một thời gian nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- 01 điện thoại di động màu đen hiệu Philips E103 là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

- 01 dùi đục cán gỗ kích thước 23cm x 2,5cm; 01 ống kim loại màu trắng dài khoảng 55cm đường kính ống 02cm và 01 con dấu hình chữ nhật màu đỏ có ghi chữ “COD” là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 USB hiệu Apacer ; 01 USB màu đỏ dung lượng 4Gb; 01 USB màu xanh dương hiệu dung lượng 04Gb chứa dữ liệu, hình ảnh cần lưu hồ sơ vụ án.

- 01 gói hàng màu đen, bên ngoài dán phiếu giao hàng có nội dung “TRINH LE 0906955700-0933135931, người nhận tên Hằng Ớt - Điện thoại: 0839272222 (gặp Ms Ny) địa chỉ: Đường D, Phường H, quận T” và phiếu có nội dung “338 Chiến Lược, P. Bình Trị Đông A, Quận Bình Tân thu hộ 9.825.000 đ – người nhận Hằng Ớt đường D, Phường H, quận B - ĐT: 0839272222” (cả 2 phiếu đều có đóng dấu COD màu đỏ); 01 gói hàng màu đen, bên ngoài dán phiếu có nội dung “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm Ms Ni 0839272222, trị giá 6.280.000 đồng, có đóng dấu COD màu đỏ; 01 gói hàng màu đen bên ngoài có dán phiếu “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm là Ms Ni 0839272222 trị giá 4.700.000đ”; 01 cục hàng bên ngoài ghi nội dung “Serum Kem ốc sên body collagen, TC: 2.870.000đ” bằng bút lông màu xanh; 01 gói hàng màu xanh dương bên ngoài có dán phiếu “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm là Ms Ni 0839272222 trị giá 3.100.000đ” đã được niêm phong, bên trong là quần áo cũ do bị cáo C đóng gói nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 30, khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Lâm Minh C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo : LÂM MINH C 03 (Ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2020.

[2] Buộc bị cáo Lâm Minh C có trách nhiệm bồi thường cho chị Sa Lê Hoàng T số tiền 28.397.000 (Hai mươi tám triệu ba trăm chín mươi bảy ngàn) đồng.

Kể từ ngày chị Sa Lê Hoàng T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

[3]- Giao xe mô tô hiệu Wave LiFan màu đỏ, biển số: 51Y3 – 7797, số máy DT1P50FMG-3000507, số khung VDTLCG012DT000507 cho Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau 01 năm nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Trả lại cho bị cáo : 01 điện thoại di động màu đen hiệu Philips E103.

- Lưu hồ sơ vụ án : 01 USB hiệu Apacer ; 01 USB màu đỏ dung lượng 4Gb;

01 USB màu xanh dương hiệu dung lượng 04Gb lưu trữ dữ liệu hình ảnh.

- Tịch thu tiêu huỷ : 01 dùi đục cán gỗ kích thước 23cm x 2,5cm; 01 ống kim loại màu trắng dài khoảng 55cm đường kính ống 02cm ; 01 con dấu hình chữ nhật màu đỏ có ghi chữ “COD”; 01 gói hàng màu đen, bên ngoài dán phiếu giao hàng có nội dung “TRINH LE 0906955700-0933135931, người nhận tên Hằng Ớt - Điện thoại: 0839272222 (gặp Ms Ny) địa chỉ: Đường D, Phường H, quận T” và phiếu có nội dung “đường C, Phường A, quận B thu hộ 9.825.000 đ – người nhận Hằng Ớt Đường D, Phường H, quận T - ĐT: 0839272222” (cả 2 phiếu đều có đóng dấu COD màu đỏ); 01 gói hàng màu đen, bên ngoài dán phiếu có nội dung “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc Miên, người nhận giùm Ms Ni 0839272222, trị giá 6.280.000 đồng, có đóng dấu COD màu đỏ; 01 gói hàng màu đen bên ngoài có dán phiếu “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm là Ms Ni 0839272222 trị giá 4.700.000đ”; 01 cục hàng bên ngoài ghi nội dung “Serum Kem ốc sên body collagen, TC: 2.870.000đ” bằng bút lông màu xanh; 01 gói hàng màu xanh dương bên ngoài có dán phiếu “cửa hàng Shop Minnie House địa chỉ đường N, phường N, quận P, người nhận là Đỗ Mộc M, người nhận giùm là Ms Ni 0839272222 trị giá 3.100.000đ”.

Theo phiếu nhập kho vật chứng số 56/PNK ngày 03/4/2020 của Công an quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.419.850 (Một triệu bốn trăm mười chín ngàn tám trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[5] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.


99
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 133/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:133/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Bình - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về