Bản án 133/2017/DS-ST ngày 29/09/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán và vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 133/2017/DS-ST NGÀY 29/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VÀ VAY TÀI SẢN 

Ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 391/2017/TLST-DS ngày 04/7/2017 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2017/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 86/2017/QĐST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1963.
Nơi cư trú: Đường B, khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Đồng bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1977; Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1975.
Nơi cư trú: Đường P, khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2017 và quá trình giải quyết vụ, nguyên đơn
bà Nguyễn Thị R trình bày:
Do quen biết với bà T nên từ tháng 5/2015 đến tháng 02/2017 bà R có bán thịt heo cho bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Thái H để bán hủ tiếu, bún riêu. Ngày 12 tháng 3 năm 2017 âm lịch, bà T có ký giấy nhận nợ với bà R số tiền 92.860.000 đồng, sau đó bà R có đến nhà bà T, ông H yêu cầu trả tiền nhưng ông H, bà T đã bỏ nhà đi. Trong số tiền 92.860.000 đồng có 82.860.000 đồng là tiền bán thịt heo và 10.000.000 đồng bà T mượn để trả tiền lãi. Trong đơn khởi kiện bà R yêu cầu ông H, bà T trả cho bà số tiền 92.860.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày gút nợ 12/3/2017 âm lịch cho đến nay. Đến ngày 28/8/2017 bà R thay đổi yêu cầu, bà R chỉ yêu cầu bà T trả số tiền trên, không yêu cầu ông H cùng trả.
* Tòa án đã triệu tập hợp lệ  bà T, ông H nhiều lần nhưng bà T không tham gia tố tụng tại Tòa nên không thể hiện ý kiến của bà T, ông H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phát biểu quan điểm đối với việc giải quyết vụ án:
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự;  Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung: Bà R có bán thịt heo và cho bà T có vay số tiền tổng cộng 92.860.000 đồng, được thể hiện bằng giấy nợ ghi ngày 12/3/2017. Tại kết luận giám định 61/GT.2017 ngày 10/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh đã kết luận, chữ viết và chữ ký trong giấy nợ ngày 12/3/2017 là chữ viết và chữ ký của bà T nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà R, buộc bà T trả cho bà R số tiền gốc là 92.860.000 đồng, trả tiền lãi theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bà T viết giấy gút nợ với bà R tổng số tiền 92.860.000 đồng ngày 12/03/2017. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bà T có nơi cư trú tại Đường P, khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Bà T ký giấy gút nợ với bà R vào ngày 12/03/2017 âm lịch, nhằm ngày 08/4/2017 dương lịch, bà R khởi kiện vào ngày 26/06/2017 dương lịch, từ ngày ký giấy gút nợ đến ngày khởi kiện chưa quá 3 năm, theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện tranh chấp vay tài sản vẫn còn.
[3] Về nội dung: Bà R có ký giấy gút nợ với bà T số tiền 92.860.000 đồng là có thật và hoàn toàn tự nguyện, thể hiện bằng giấy nợ ghi ngày 12/03/2017. Bà R yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không trả mà bỏ nhà đi, việc bà T không trả tiền cho bà R làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà R nên bà R khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền
92.860.000 đồng là có cơ sở.
Quá trình giải quyết vụ án bà T vắng mặt, nên ngày 28/7/2017 bà R có đơn yêu cầu Tòa án giám định chữ ký, chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng T trong giấy gút nợ ngày 12/3/2017.
Tại kết luận giám định 61/GT.2017 ngày 10/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh đã kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên “Nguyễn Thị Hồng T” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Hồng T trên tài liệu mẫu (ký hiệu M01; M02) do cùng một người ký và viết ra. Do đó, đủ cơ sở buộc bà T trả R số tiền 92.860.000 đồng.
Bà R có cung cấp quyển sổ về theo dõi ghi tiền thịt của bà T với tổng số tiền là 82.860.000 đồng (tự bà R ghi để theo dõi), trong giấy gút nợ không ghi rỏ tiền thịt bao nhiêu và tiền vay bao nhiêu, nhưng bà T có gút nợ vào ngày 12/03/2017 với số tiền 92.860.000 đồng, đã được giám định nên có đủ cơ sở xác định bà T còn thiếu bà R số tiền gốc là 92.860.000 đồng, bà T không trả tiền cho bà R nên bà R yêu cầu tính lãi số tiền 92.860.000 đồng từ ngày gút nợ 12/03/2017 cho đến ngày xét xử là phù hợp, bà T đã được triệu tập nhưng không tham gia tố tụng tại tòa nên bà T phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468, cụ thể lãi suất được tính như sau: Ngày vay 12/3/2017 âm lịch, nhằm ngày 08/4/2017 dương lịch đến ngày xét xử 29/9/2017 dương lịch  là 05 tháng 21 ngày: 92.860.000 đồng x (10% : 12) x 05 tháng 21 ngày = 4.411.000 đồng.
Bà T có nghĩa vụ trả cho bà R số tiền là 97.271.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 92.860.000 đồng, tiền lãi là 4.411.000 đồng.
[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà R, buộc bà T chịu án phí và chi phí giám định. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị này là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Bà R yêu cầu bà T trả số tiền 92.860.000 đồng và tiền lãi là 4.411.000 đồng, được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên theo của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu toàn bộ án dân sự sơ thẩm theo quy định là 5% giá trị tranh chấp, tương đương số tiền án phí phải nộp là 4.864.000 đồng.
[6] Về chi phí giám định: Bà T phải chịu 1.020.000 đồng, bà R đã nộp tạm ứng 1.020.000 đồng, bà R được hoàn lại tiền chi phí giám định là 1.020.000 đồng khi bà T nộp vào.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14  ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội có quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng mua bán và vay tài sản” của bà Nguyễn Thị R đối với bà Nguyễn Thị Hồng T. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T trả cho Nguyễn Thị R số tiền 97.271.000 (Chín mươi bảy triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng, trong đó tiền gốc là 92.860.000 (Chín mươi hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn) đồng, với số tiền lãi là 4.411.000 (Bốn triệu bốn trăm mười một nghìn) đồng.
2. Kể từ ngày bà R có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà T chưa trả số tiền nêu trên thì hàng tháng bà T coøn phaûi trả lãi đối với số tiền chậm trả  tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí sơ thẩm dân sự:
Bà Nguyễn Thị Hồng T chịu 4.864.000 (Bốn triệu tám trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng.
Bà Nguyễn Thị R không phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Hoàn trả cho bà R tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.322.000đ (Hai triệu ba trăm hai mươi hai nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0004302 ngày 03/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh.
4. Về chi phí giám định: Bà T phải chịu 1.020.000 đồng, bà R đã nộp tạm ứng 1.020.000 đồng, bà R được hoàn lại tiền chi phí giám định là 1.020.000 đồng khi bà T nộp vào.
5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú.

132
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 133/2017/DS-ST ngày 29/09/2017 về tranh chấp hợp đồng mua bán và vay tài sản

Số hiệu:133/2017/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về