Bản án 13/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 13/2020/HS-ST NGÀY 17/01/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 17 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2019/HS-ST ngày 13 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 01/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H, sinh ngày: 22/9/1986 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn San và bà PH Thị Chuất (đã chết); có vợ: Kim Thị Hoa và có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/8/2019 đến ngày 19/8/2019 tại ngoại, (có mặt).

2. Nguyễn Văn S, sinh ngày: 28/5/1983 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Pvà bà Nguyễn Thị S; có vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1987 và có 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 35/2013/HSST ngày 30/9/2013, Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt Nguyễn Văn S 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. S thi hành án xong, ra trại ngày 29/3/2015. Án phí hình sự và án phí dân sự thi hành xong tháng 9/2014. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/8/2019 đến ngày 19/8/2019 tại ngoại, (có mặt).

3. Nguyễn Văn T, sinh ngày: 19/8/1985 tại Vĩnh Phúc; nơi cư trú: tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị P; có vợ: Lê Thị L và có 03 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/8/2019 đến ngày 19/8/2019 tại ngoại, (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1 Anh Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1979; nơi cư trú: TDP Vĩnh Thịnh 5, phường Tích Sơn, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Anh Mai Khắc Đ, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số nhà 56, đường Trần Phú, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 11/8/2019, Nguyễn Văn H cùng Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T và Nguyễn Đức Q cùng ngồi uống bia tại nhà của S ở tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi uống bia xong, H rủ S đánh bạc dưới hình thức đánh Bi-a được thua bằng tiền, S đồng ý và gọi xe taxi (không nhớ hãng xe, BKS) cùng H, T, Q đi đến quán Bi-a 9 Short thuộc khu hành chính 11, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên của anh Nguyễn Kim Đ làm chủ quán. Khi đến quán Bi-a, H, S, T và Q gặp anh Mai Khắc Đ là quản lý của quán đặt vấn đề thuê 01 bàn để đánh Bi-a, anh Đ đồng ý. Sau đó, cả 4 người đến bàn số 2 để đánh Bi-a ăn tiền. Tại đây, chỉ có H và S chơi còn T và Q đứng xem. Khi bắt đầu chơi, do S không đem theo tiền nên nói với T : “Mày đưa cho chú vay 4 triệu để chú chơi với H ”, T hiểu ý của S là hỏi vay tiền để đánh bạc dưới hình thức đánh Bi-a được thua bằng tiền với H nhưng vẫn đồng ý cho S vay số tiền 4.000.000,đ và để trên mặt bàn Bi-a. Trước khi tham gia đánh bạc, H có 2.930.000,đ, S có 4.000.000,đ sử dụng vào việc đánh bạc. H và S thống nhất cách thức đánh bạc dưới hình thức đánh Bi-a “Bạch thủ 15” (ai đánh bi số 15 xuống lỗ trước thì thắng), mức sát phạt thấp nhất là 20.000,đ, cao nhất là 60.000,đ, hai người sẽ đánh các bi từ 1 đến bi số 14 theo hình thức chẵn, lẻ, mỗi bi được đánh vào lỗ giữa cạnh dài của bàn (hay còn gọi là lỗ 10) thì sẽ thắng 200.000,đ, hình thức thanh toán bằng tiền mặt ngay sau khi bi được đánh vào lỗ 10 hoặc đánh được bi số 15 cuối cùng vào lỗ. Sau khi chơi được khoảng vài ván thì H và S nâng mức sát phạt lên thấp nhất là 200.000,đ, cao nhất là 600.000,đ. Trong quá trình H và S đánh Bi-a thì T và Q đứng xem, có khoảng 2 đến 3 ván khi bóng rơi vào lỗ đến gần vị trí đứng của Q thì Q nhặt bóng xếp lên bàn giúp H và S . H và S đánh Bi-a đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện bắt quả tang. Tang vật thu giữ: số tiền 6.930.000,đ là số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc; cụ thể: thu trên bàn Bi-a số tiền 3.800.000,đ của S (S thua 200.000,đ), thu trên người H số tiền 3.130.000,đ (H thắng 200.000,đ); thu giữ 16 quả Bi-a bằng sứ và 02 chiếc gậy dùng để chọc Bi-a bằng gỗ.

Tại Cáo trạng số 146/CT-VKSVY ngày 15/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên; các bị cáo đều khẳng định Q chỉ đứng xem, không tham gia gì không nhặt bóng hộ cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên khai nhận phù hợp với nội dung trên; Q không tham gia gì và không nhặt bóng giúp các bị cáo (bút lục 81-82, 91-98).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”;

Về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt: Nguyễn Văn H từ 9 tháng đến 11 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 8 tháng đến 10 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt: Nguyễn Văn T từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng;

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng để sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 6.930.000,đ là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Xác nhận cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho anh Nguyễn Kim Đ 16 quả bóng Bi a bằng sứ và 02 chiếc gậy chọc Bi-a bằng gỗ là tài S hợp pháp của anh Đ .

Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt phạm tội quả tang về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ 50 phút ngày 11/8/2019, tại quán Bi-a 9 Short của anh Nguyễn Kim Đ ở KHC 11, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc: Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T, đang đánh bạc dưới hình thức đánh Bi-a được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang. Thu giữ tang vật gồm: 6.930.000,đ là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc, 16 quả bóng Bi-a và 02 chiếc gậy chọc Bi-a.

Hành vi trực tiếp tham gia sát phạt được thua bằng tiền nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì mục đích thu lời bất chính. Các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự xã hội được pháp luật bảo vệ. Cờ bạc là tệ nạn xã hội làm khánh kiệt kinh tế cá nhân, gia đình và là nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn, hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong vụ án này Nguyễn Văn H có vai trò khởi xướng, rủ rê và cùng Nguyễn Văn S tham gia đánh bạc một cách tích cực. Bị cáo S đã từng bị xử phạt 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, mặc dù không bị tính là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo H và S mức hình phạt cao hơn, tương xứng với mức độ phạm tội. Bị cáo T phạm tội vai trò giúp sức tuy nhiên cũng cần xử phạt mức hình phạt tương xứng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo H và T “Lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “Thành khẩn khai báo”, “Ăn năn hối cải”, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo S có ông nội được tặng thưởng “Huân chương kháng chiến”, nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Như đã nêu trên, xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Đối với bị cáo H là người khởi xướng, bị cáo S tham gia tích cực nên cần chấp nhận đề nghị của của đại diện Viện kiểm sát buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội. Đối với bị cáo T có vai trò giúp sức, lần đầu phạm tội, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định và hiện đang phải nuôi 03 con còn rất nhỏ, nên có thể cho bị cáo mức phạt tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Nên cần phạt các bị cáo H, S, T mỗi bị cáo 10 triệu đồng để sung quỹ nhà nước.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[3] Đối với người và hành vi có liên quan: Đối với 16 quả Bi-a và 02 chiếc gậy chọc Bi-a, các bị cáo sử dụng làm công cụ đánh bạc, quá trình điều tra xác định là tài S của anh Nguyễn Kim Đ (chủ quán) mua để phục vụ khách đến quán chơi Bi-a tại quán Bi-a 9 Short. Ngày 11/8/2019, H và S sử dụng đồ vật trên vào mục đích đánh bạc, anh Đ và anh Đ (quản lý quán) không biết. Nên, ngày 16/10/2019, cơ quan điều tra đã trả lại 16 quả Bi-a và 02 chiếc gậy chọc Bi-a cho anh Đ đã nhận lại tài S và không yêu cầu gì.

Đối với chiếc bàn Bi-a số 2 tại quán 9 Short, H và S sử dụng làm công cụ thực hiện đánh bạc, quá trình điều tra xác định chiếc bàn là tài S hợp pháp của anh Đ mua để phục vụ kinh doanh, ngày 11/8/2019 các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, anh Đ không có mặt tại quán Bi-a, không biết hành vi phạm tội của H và đồng phạm, nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra xác định anh Mai Khắc Đ (quản lý quán) là người cho H, S, T thuê bàn Bi-a để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Sau khi cho H và S thuê bàn Bi-a để chơi thì anh Đ vào quầy giao dịch của quán Bi-a ngồi chơi điện tử và phục vụ các mặt hàng nước uống khi có khách hàng yêu cầu, anh Đ không biết H và đồng phạm đánh Bi-a được thua bằng tiền, trong quá trình các bị cáo đánh Bi-a anh Đ cũng không lại gần bàn Bi-a, không thấy các bị cáo đánh Bi-a được thua bằng tiền cụ thể như thế nào. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Đức Q, quá trình điều tra xác định khi H rủ T, S và Q đi chơi Bi-a được thua bằng tiền thì lúc này bản thân Q đã sử dụng rượu bia và không có mục đích đánh bạc, Q chỉ đi cùng để xem H và S chơi Bi-a, Q không trực tiếp đánh Bi-a, không tham gia cá cược, không cỗ vũ, không giúp sức khi H và S đánh Bi-a. Do đó, Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Yên không đề cập xử lý.

[4] Về vật chứng: Về số tiền 6.930.000,đ thu giữ tại bàn Bi-a, xác định là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu, xung quỹ nhà nước.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt; bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/8/2019 đến ngày 19/8/2019.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt; bị cáo Nguyễn Văn S 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/8/2019 đến ngày 19/8/2019.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt; bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Đánh bạc”. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đồng Tâm, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt các bị cáo H, S và T mỗi bị cáo 10.000.000,đ (mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bán án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền 6.930.000,đ (sáu triệu chín trăm ba mươi ngàn đồng) là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 25/11/2019). Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

223
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:13/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về