Bản án 13/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 13/2019/HS-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo: Lò Văn Q; tên gọi khác: không; sinh năm 1994 tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: bản B D1, xã T Đ, huyện TUy, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn M (đã chết) và con bà Lò Thị H, sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: ngày 26 tháng 9 năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 18 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 37/2016/HSST; tính đến thời điểm phạm tội (ngày 29 tháng 01 năm 2018), bị cáo chưa được xoá án tích; tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03 tháng 8 năm 2018 theo lệnh tạm giam số 32/LBBC ngày 03 tháng 8 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều Công an thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; ngày 20 tháng 11 năm 2018, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 24 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số: 111/2018/HSST, hiện bị cáo đang thi hành án tại trại giam Nà Tấu, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; đến ngày 15 tháng 3 năm 2019 Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã trích xuất bị cáo đến phiên toà để xét xử. Hiện nay bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt.

* Người bị hại:

- Ông Lò Văn S; sinh năm: 1979; trú tại: Bản N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

- Bà Lò Thị L tên gọi khác ( Vời Thị L); sinh năm: 1979; trú tại: B N H 3, xã NH, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

*Người làm chứng:

- Ông Lò Văn H; sinh năm: 2000; trú tại: B N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý).

- Ông Lò Văn A; sinh năm: 2000; trú tại: N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do).

- Ông Lò Văn I; sinh năm: 2002; trú tại: N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt không có lý do).

- Ông Lò Văn Ph; sinh năm: 1966; trú tại: Bản HN, xã P Kh, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27 tháng 01 năm 2018 Lò Văn Q, sinh ngày 05 tháng 12 năm 1994, đi xe khách từ thành phố LCh đến xã N H, huyện Sìn Hồ để thăm bạn của Q tên là Lò Văn Th, trú tại bản N H 2, xã N H, huyện S H. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến ngã ba xã Nậm Tăm, huyện Sìn Hồ, Q xuống xe đi bộ theo hướng xã N H, đi được khoảng 02 (hai) km, Q gặp Lò Văn H sinh năm 2000 và Lò Văn A sinh ngày 10 tháng 7 năm 2000 đều trú tại bản NH 3, xã N H, huyện Sìn Hồ đi xe máy cùng chiều, Q vẫy lại xin đi nhờ xe đến xã N H, huyện Sìn Hồ thì H và A đồng ý. Cả 3 người cùng đi một xe đến xã N H vào nhà anh Lò Văn A ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong A, H và Q đi sang nhà H Ngủ. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28 tháng 01 năm 2018, A, H và Q đi sang nhà Lò Văn Th, sinh năm 1992, trú tại bản H N2, xã N H(bạn của Quỳnh) chơi và ăn cơm tại đó. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, cả ba người cùng về nhà An ngủ, sau khi ngủ dậy, An và Hanh đến trường trung học phổ thông xã N T để đi học, còn Q ở lại nhà của A với em trai A tên là Lò Văn I sinh ngày 16 tháng 5 năm 2002. Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 29/01/2018, Lò Thị L (tên gọi khác Vời Thị L) sinh năm 1981 trú tại bản N H 3, xã N H (mẹ của Lò Văn A và Lò Văn I) ở lán ruộng về đến nhà bảo I đi dự đám cưới ở trong bản sau đó L đi đám cưới trước. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, I điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444 của gia đình (đăng ký xe máy mang tên chủ hộ là ông Lò Văn S, sinh năm 1979, trú tại bản N H 3, xã N H) đi dự đám cưới, Q cũng đi theo. Sau khi ăn cơm đám cưới xong, I và Q về nhà I ngủ. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày 29 tháng 01 năm 2018 khi tỉnh dậy, Q thấy I vẫn đang ngủ say và trong nhà không có ai nên Q liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy của gia đình Lò Văn S để làm phương tiện cho cá nhân, Q thò tay xuống túi quần bên phải của I đang ngủ say lấy chìa khóa xe, sau đó đi xuống gầm sàn nhà lấy trộm chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444 điều khiển theo hướng thành phố Lai Châu. Đi đến khu vực bản H N, xã P Kh, huyện S H, Q dựng xe ở ven đường rồi đi vào lán của Lò Văn Ph, sinh năm 1969 trú tại bản H N, xã PKh xin nước uống. Khi vào trong lán không thấy có người, Q liền nảy sinh ý định trộm cắp gà của Lò Văn Ph mang đi bán lấy tiền, Q đi ra chuồng gà ở phía sau lán thấy có một bao tải xác rắn màu vàng treo ở vách lán nên cầm lấy bao tải, mở chuồng bắt trộm gà cho vào bao tải, khi bắt được 02 con gà đang cho vào bao tải thì bị Lò Văn Ph phát hiện, Q vứt bao tải gà bỏ chạy nên bỏ lại chiếc xe máy đã trộm của gia đình Lò Văn S tại đó. Ngày 30 tháng 01 năm 2018 Lò Thị L (vợ Lò Văn S) gửi đơn đến Cơ quan Công an đề nghị xác minh làm rõ.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 09 vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Sìn Hồ kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S màu đen, BKS 25F5-1444, xe đã qua sử dụng, do Lò Văn Q trộm cắp, trị giá 7.200.000 đồng (bảy triệu, hai trăm nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Lò Văn Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố là đúng người, đúng tội đúng pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Lò Văn Q từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng Điều 56 bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo Lò Văn Q (bản án số 111/2018/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên); về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, khó có khả năng thi hành nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy: 01 bao tải xác rắn màu vàng (cũ, đã qua sử dụng), 01 đoạn tre dài 01m, đường kính 04 cm; về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị xâm phạm là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444 (cũ, đã qua sử dụng). Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sì n Hồ, tỉnh Lai Châu đã Quyết định xử lý vật chứng và trả lại cho người bị hại là Lò Văn S, sinh năm 1979; trú tại bản N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Người bị hại đã được nhận lại tài sản bị xâm phạm, không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề trách nhiệm dân sự.

Xét thấy bị cáo Lò Văn Q là người có nhân thân không tốt, không chịu lao động sản xuất, ăn chơi đua đòi, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra làm mất an ninh trật trự trên địa bàn huyện Sìn Hồ nên đề nghị Hội đồng xét xử cần đưa ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe đối với bị cáo.

Người bị hại Lò Văn S, Lò Thị L tên gọi khác (Vời Thị L) có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa và không đề nghị bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Đánh giá chứng cứ, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại, người làm chứng: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với nội dung hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại nhà của Lò Văn S, sinh năm 1979, trú tại bản N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Lò Văn Q sinh ngày 05 tháng 12 năm 1994, trú tại bản BD 1, xã Tr Đ, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, biển kiểm soát 25F5-1444, trị giá 7.200.000 (bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) của Lò Văn S với mục đích để làm phương tiện cho cá nhân.

Hành vi của bị cáo Lò Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách bất hợp pháp, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm Hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài s ản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham hưởng thụ, không chịu lao động sản xuất. Bị cáo với thủ đoạn lợi dụng trong lúc người bị hại vắng nhà, bị cáo đã bí mật lấy trộm chiếc xe máy của người bị hại một cách bất hợp pháp, bí mật chuyển dịch 01(một) chiếc xe máy nhãn hiệu HONDAWave S, biển kiểm soát 25F5-1444, trị giá 7.200.000 đồng (bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) là tài sản của gia đình người bị hại thành của mình nhằm mục đích để làm phương tiện cho cá nhân nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự với lỗi cố ý trực tiếp.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Lò Văn Quỳnh sinh ra và lớn lên tại bản Bút dưới 1, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 09/12, bị cáo có đủ khả năng nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bị cáo đã bất chấp pháp luật, lợi dụng sự mất cảnh giác từ việc bảo vệ tài sản của các chủ sử hữu, bị cáo đã dắt trộm xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444 của Lò Văn S với mục đích để làm phương tiện cho cá nhân. Giá trị tài sản bị xâm phạm có giá trị là 7.200.000 (bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) đã đủ các yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hơn nữa, ngày 26 tháng 9 năm 2016, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 37/2016 /HSST ; đến thời điểm phạm tội (ngày 29 tháng 01 năm 2018), sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thời hạn, trở về địa phương sinh sống, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Đến thời điểm phạm tội (ngày 29 tháng 01 năm 2018) bị cáo chưa được xoá án tính theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo Lò Văn Q phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444, trị giá 7.200.000 (bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) của Lò Văn S; bị cáo rời khỏi địa phương đến thành phố Điện Biên phủ, tỉnh Điện Biên thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 111/2018/HSST, ngày 20 tháng 11 năm 2018. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt với bản án số 111/2018/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên, tỉnh Điện Biên Phủ để tuyên phạt đối với bị cáo Lò Văn Q.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng trong pháp luật của Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, khó có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 bao tải xác rắn màu vàng (cũ, đã qua sử dụng), 01 đoạn tre dài 01m, đường kính 04 cm; đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444 (cũ, đã qua sử dụng) của Lò Văn S đây là tài sản do Lò Văn Q đã trộm cắp của gia đình ông Lò Văn S vào ngày 29 tháng 01 năm 2018. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho người bị hại là Lò Văn S, sinh năm 1979; trú tại bản N H 3, xã N H, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị xâm phạm là chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, BKS 25F5-1444 (cũ, đã qua sử dụng). Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã Quyết định xử lý vật chứng và đã trả lại cho người bị hại là Lò Văn S, sinh năm 1979; trú tại bản NH 3, xã NH, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Người bị hại đã được nhận lại tài sản bị xâm phạm, không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề trách nhiệm dân sự.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

[10] Về trách nhiệm của chính quyền địa phương: Thông qua vụ án này, đề nghị các cấp chính quyền địa phương cần nâng cao tuyên truyền ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân; có biện pháp phòng ngừng, tăng cường đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội trên địa bàn; quản lý chặt chẽ nhân hộ khẩu trên địa bàn, cảnh giác đề phòng bảo vệ tài sản trên địa bàn và có các biện pháp bảo vệ giữ gìn trật tự an ninh xã hội.

Theo lời khai của Lò Văn Ph, khoảng 19 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2018 khi phát hiện một người thanh niên đang bắt trộm gà tại lán của gia đình, Phiêng dùng gậy vụt vào người thanh niên, người thanh niên bỏ chạy và vứt bao tải màu vàng tại chuồng gà. Sợ có nhiều người, Ph không đuổi theo mà gọi người để giúp đỡ, sau đó kiểm tra phát hiện gia đình bị mất 02 con gà, mỗi con nặng khoảng 1,5 kg. Trong quá trình điều tra, Lò văn Q khai nhận, khi bắt được 02 con gà đang cho vào bao tải thì bị một người đàn ông phát hiện, Quỳnh vứt luôn bao tải đựng 02 con gà tại chuồng rồi bỏ chạy, quá trình điều tra, không thu giữ được tài sản để xác định khối lượng tài sản bị xâm phạm. Vì vậy không có căn cứ để xử lý trong cùng vụ án này.

Theo lời khai của Lò Văn I, ngoài chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave S, biển kiểm soát 25F5-1444, I còn mất 01 điện thoại nhãn hiệu HOTWAS màu đen xám, trị giá 1.300.000 đồng; 01 áo da màu đen; 01 đôi giày; 01 quần vải thô; 01 áo phông và 50.000 đồng, nghi Q trộm cắp. Quá trình điều tra I không đủ căn cứ để chứng minh Lò Văn Q đã trộm cắp những tài sản trên của Lò Văn I. Do đó không có căn cứ để xử lý trong cùng vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 47, Điều 56 của bộ luật Hình sự; các Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Q phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn Q: 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù, tại bản án số: 111/2018/HSST ngày 20 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 03 tháng 8 năm 2018).

3. Về Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: 01(một) bao tải xác rắn màu vàng (cũ đã qua sử dụng), 01 (một) đoạn tre dài 01m, có đường kính 04 cm, do không còn giá trị sử dụng.

4. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

5. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lò Văn Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 4 năm 2019); Người bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


113
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HS-ST ngày 23/04/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:13/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sìn Hồ - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về