Bản án 13/2019/HS-PT ngày 22/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 13/2019/HS-PT NGÀY 22/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Lê Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2018/HS-ST ngày 14-11- 2018 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Thanh H, sinh năm 1990 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân H và Nguyễn Thị Hồng P; tại ngoại - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ, ngày 14/7/2018 Lê Thanh H đến nhà chị Đàm Thị N tại thôn X, xã Đ, huyện Đ hỏi mượn xe mô tô để đi huyện C thì chị N đồng ý và giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, màu sơn đỏ, vàng, xám, biển kiểm soát 48E1 - 114.06 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho H và nói H đến 14 giờ cùng ngày phải mang xe về trả. Sau khi mượn được xe, H điều khiển xe đi đến huyện C, tỉnh Đắk Nông, khi đang đi trên đường thì nhận được điện thoại của Nguyễn Thị Đài L trú tại tổ Z, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước là bạn của H quen qua mạng xã hội hỏi mượn số tiền 3.000.000 đồng. Do không có tiền nên H điều khiển xe đến tiệm cầm đồ V của anh Ngô Quang L ở thôn Y, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cầm cố để lấy số tiền 3.000.000 đồng và hẹn đến chiều ngày 15/7/2018 sẽ đến chuộc lại xe. Sau khi có tiền, H đến cửa hàng V huyện Đ gửi số tiền 3.000.000 đồng cho Nguyễn Thị Đài L. Đến chiều cùng ngày, chị N nhiều lần gọi điện thoại yêu cầu H mang xe về trả nhưng không thấy H mang xe về trả. Đến sáng ngày 15/7/2018 chị Đàm Thị N đã làm đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil. Sau khi biết được Lê Thanh H cầm cố chiếc xe của chị N thì bà Nguyễn Thị Hồng P là mẹ ruột của H đã đến chuộc xe mô tô lại để trả lại cho chị N.

Sau khi đã cầm cố xe lấy tiền cho Nguyễn Thị Đài L mượn, khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 14/7/2018 Lê Thanh H đến nhà chị Lê Thị H, sinh năm 1970, trú tại thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để xin làm rẫy thuê nhưng chị H không đồng ý nên H xin chị H cho ngủ nhờ một đêm và được chị H đồng ý và bố trí cho H ngủ cùng với con trai của chị H ở phòng khách. Đến khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 15/7/2018, H tỉnh dậy đi xuống bếp, lấy chìa khóa xe mô tô đang để ở kệ ti vi rồi mở của bếp đi đến vị trí chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, màu sơn xám đen, biển kiểm soát 48E1 - 216.58 đang dựng bên hông nhà nổ máy và điều khiển xe mô tô về tiệm cầm đồ V của anh Ngô Quang L để cầm cố nhưng do không có giấy đăng ký xe mô tô nên anh L không đồng ý cầm cố, H đưa xe mô tô biển kiểm soát 48E1 - 216.58 đi tìm nơi tiêu thụ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil phát hiện và thu giữ chiếc xe mô tô.

Bản kết luận định giá tài sản số: 28/HĐĐGTS ngày 23/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, màu sơn đỏ, vàng, xám, biển kiểm soát 48E1 - 114.06 có giá trị 25.491.500 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn xám đen, biển kiểm soát 48E1 - 216.58 có giá trị 19.711.500 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số: Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2018/HS-ST ngày 14-11- 2018 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đăk Nông đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh H 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Thanh H 01 (Một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Thanh H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm tù.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 21-11-2018, bị cáo Lê Thanh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh H giữ nguyên nội dung kháng cáo, thừa nhận Toà án nhân dân huyện Đăk Mil xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tìnhtiết của vụ án, đề nghị  Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Khoảng 10 giờ ngày 14-7-2018 bị cáo Lê Thanh H đã có hành vi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Future Neo, màu sơn đỏ vàng xám, biển kiểm soát 48E1 - 114.06 của chị Đàm Thị N có tổng giá trị là 25.491.500 đồng mang đi cầm cố lấy số tiền 3.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân.

Đồng thời vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 15-7-2018, bị cáo Lê Thanh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn xám đen, biển kiểm soát 48E1 - 216.58 của chị Lê Thị H có giá trị 19.711.500 đồng.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Thanh H đã bị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn căn cứ, đúng pháp luật, không oan.

[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Hội đồng xét xử Toà án cấp sơ thẩm huyện Đăk Mil đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo 02 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: Bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt 02 năm tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên cho cả 02 tội đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

 [3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh H 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Thanh H 01 (Một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lê Thanh H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HS-PT ngày 22/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:13/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về