Bản án 13/2018/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 13/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 28 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2019 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXX-ST ngày 11 tháng 03 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Ngọc A, sinh năm 1990

SQ: Thị trấn Y, huyện Y, Yên Bái

2. Bị đơn: Nguyễn Quang H, sinh năm 1987

Cùng HKTT: Thôn C , xã C, huyện U, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai - Nguyên đơn Chị Đinh Thị Ngọc A trình bầy: Chị kết hôn với anh Nguyễn Quang H do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, Tp Hà Nội năm 2016. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do không hợp nhau và do anh H chơi bời, không quan tâm đến vợ con. Tình cảm vợ chồng dạn nứt, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, chị chán nản đã bỏ nhà anh H đi, vợ chồng sống ly thân hơn một năm nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Tại bản biên bản lấy lời khai Bị đơn anh Nguyễn Quang H trình bày: Anh tự nguyện kết hôn với chị Đinh Thị Ngọc A có đăng ký tại UBND xã Cao Thành vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 1 năm thì mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên va chạm xích mích. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành, chị Ngọc A đã bỏ nhà anh ra ngoài ở. Vợ chồng sống ly thân hơn 1 năm nay, giữa anh và chị Ngọc A không còn tình cảm gì, anh cũng nhất trí ly hôn.

Về con chung chị Đinh Thị Ngọc Anh, anh Nguyễn Quang H đều xác nhận: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hải Ph, sinh ngày 29/12/2017. Khi ly hôn chị Ngọc A, anh H đều xin nuôi con và nếu được quyền nuôi con thì các bên đều không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Ngọc A có quan điểm cháu Phong còn quá nhỏ mới hơn 1 tuổi rất cần sự chăm sóc của mẹ nên cương quyết xin dược nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Chị Ngọc A, anh H đều xác nhận không có gì.

Tại phiên tòa:

- Chị Đinh Thị Ngọc A vẫn xin được ly hôn và tha thiết xin được nuôi con.

- Anh H nhất trí ly hôn và cũng đồng ý cho chị Ngọc A nuôi con.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên tòa kết luận:

+ Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng là đúng pháp luật. Người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Vợ chồng chị Đinh Thị Ngọc A và anh Nguyễn Quang H trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, trong cuộc sống không có hạnh phúc. Vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hai người sông ly thân nhiều tháng nay. Chị Ngọc A xin ly hôn, anh H nhất trí. Chị Ngọc A, anh H đều xin được nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử chị Đinh Thị Ngọc A được ly hôn anh Nguyễn Quang H; Vì cháu Nguyễn Hải Ph còn quá nhỏ, mới hơn 2 tuổi giao chị Ngọc Anh được nuôi dưỡng cháu H; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H; Tài sản chung chị Ngọc A, Anh H không có gì nên không giải quyết; Chị Ngọc A phải nộp án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Đinh Thị Ngọc A đã nộp đơn cùng các tài liệu, chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình – Theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Ngọc A và anh Nguyễn Quang H kết hôn do tự nguyện, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội vào năm 2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, do tính tình, cách chăm sóc con ...Từ đó, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay không ai còn quan tâm đến ai nên chị Ngọc A xin ly hôn anh H cũng nhát trí. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: Cuộc sống chung của anh chị không có hạnh phúc, anh chị sống ly thân, không có tình cảm với nhau. Để dảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ, đề nghị tòa giải quyết cho chị Ngọc A được ly hôn anh H.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Đinh Thị Ngọc A, anh Nguyễn Quang H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, đơn xin ly hôn của chị Ngọc A phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị Ngọc A được ly hôn với anh Huy.

[3] Về con chung: Vợ chồng sinh được 01 con chung là cháu Nguyễn Hải Ph, sinh ngày 29/12/2017. Khi ly hôn chị Ngọc A, anh H đều có nguyện vọng xin được nuôi con. Tại phiên tòa anh Nguyễn Quang H đồng ý để chị Đinh Thị Ngọc A được nuôi con. Xét yêu cầu xin được nuôi con của nguyên đơn là hoàn tòa chính đáng. Cháu Nguyễn Hải Phg hiện vẫn con quá nhỏ, mới hơn 2 tuổi cháu rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng ...” Hơn nữa nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh chỗ ở và mức thu nhập đủ khả năng nuôi chon. Để đảm bảo quyền lợi cho con trẻ về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng nên giao con chung cho chị Đinh Thị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh H cho đến khi có đề nghị thay đổi mới. Anh H có quyền thăm con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở là phù hợp với Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị Ngọc A, Anh H đều không yêu cầu giải quyết nên Tòa không giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Đinh Thị Ngọc A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, kiểm sát viên tham gia phiên Tòa đã nhận xét về thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích, đánh giá mâu thuẫn của vợ chồng chị Ngọc A, anh H và đề nghị Tòa xét xử cho chị Đinh Thị Ngọc A được ly hôn anh Nguyễn Quang H, giao cháu Nguyễn Hải Ph cho chị Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 56, 81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271; 273; 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử : Chấp nhận đơn xin ly hôn của chi Đinh Thị Ngọc A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Ngọc A được ly hôn anh Nguyễn Quang H.

2. Về con chung: Giao chị Đinh Thị Ngọc A trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Hải Ph, sinh ngày 29/12/2017. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Quang H cho đến khi có đề nghị thay đổi mới. Anh H có quyền thăm con chung sau khi ly hôn không ai được ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Đinh Thị Ngọc A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0008927 ngày 03/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, chị Ngọc A đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo : Nguyên đơn, bị đơn, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

224
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:13/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ứng Hòa - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về