Bản án 13/2018/DS-ST ngày 07/03/2018 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 13/2018/DS-ST NGÀY 07/03/2018 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2017/TLST - DS ngày 19 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 06/2018/QĐXX-ST ngày 19 tháng 01năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa 07/2018/QĐDS-ST ngày 05 tháng 02 năm 2018 và thông báo thay đổi ngày xét xử số 06 ngày 26 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tuyết P, sinh năm 1985 (có mặt).

Cư trú tại: Ấp N, xã T, huyện H, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Ông Lữ Minh Q, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Bà Nguyễn Kim T, sinh năm 1983 (vắng mặt). Cùng cư trú tại: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 19/10/2017 và quá trình tố tụng tại Tòa án bà Võ Thị Tuyết P (nguyên đơn) trình bày: Vào năm 2014 bà có tham gia chơi hụi và mua hụi do bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q làm chủ hụi. Đến ngày 15/10/2016 âm lịch thì ông Q và bà T tuyên bố đình hụi. Tính đến thời điểm đình hụi thì bà T và ông Q thiếu bà số tiền hụi là 25.110.000 đồng. Sau khi đối trừ số tiền nợ theo bản án hình sự số 33/2017/HSST ngày 27/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện H thì bà T và ông Q còn thiếu bà số tiền là 25.100.000 đồng. Nay bà yêu cầu ông Q và bà T trả lại cho bà số tiền hụi còn nợ là 25.100.000 đồng (hai mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).

Ý kiến bà Nguyễn Kim T (bị đơn) trình bày: Bà thừa nhận có nợ của bà Võ Thị Tuyết P số tiền hụi là 25.100.000 đồng. Nay bà đồng ý trả cho bà P số tiền 25.100.000 đồng (hai mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay bà Võ Thị Tuyết P vẫn bảo lưu quan điểm yêu cầu bà T và ông Q thanh toán số tiền nợ hụi còn lại 25.100.000 đồng. Đối với ông Q, bà T vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Vụ việc yêu cầu của bà Võ Thị Tuyết P được Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Lữ Minh Q và bà Nguyễn Kim T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Lữ Minh Q và bà Nguyễn Kim T.

[2] Về nội dung: Việc tham gia chơi hụi giữa bà Võ Thị Tuyết P và bà Nguyễn Kim T, ông Lữ Minh Q là thực tế có xảy ra, đôi bên thỏa thuận hụi có lãi và chủ hụi được hưởng hoa hồng trên những lần mở hụi. Trong quá trình chơi hụi, bà T và ông Q đã không làm tròn trách nhiệm của người chủ hụi là tiếp tục mở hụi theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà P. Hiện tại các phần hụi đã bị đình và các đương sự không xác định rõ được số tiền hụi cụ thể mà bà P đã đóng cho bà T, ông Q. Nhưng phía bà P yêu cầu bà T và ông Q có nghĩa vụ trả cho bà số tiền nợ hụi là 25.100.000 đồng, phía bà T thừa nhận có nợ và đồng ý trả cho bà P số tiền 25.100.000 đồng. Trong khi đó, ông Q đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi, nên mặc nhiên xác định ông Q đồng ý với số tiền mà bà P yêu cầu ông thanh toán. Đồng thời, khoản nợ trên được xác định là nợ chung của bà T và ông Q nên ông Q và bà T cùng có trách nhiệm thanh toán cho bà P số tiền 25.100.000 đồng là phù hợp với quy định tại điều 471 của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Kể từ khi bà P có đơn yêu cầu thi hành án mà bà T và ông Q chậm trả khoản tiền trên cho bà P thì bà T và ông Q còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% trên tổng số tiền phải thanh toán cho bà Võ Thị Tuyết P theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 25.100.000 đồng x 5% = 1.255.000 đồng. Phần tạm ứng án phí của bà P đã nộp bà P được nhận lại.

[5] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Lữ Minh Q và bà Nguyễn Kim T tại phiên tòa. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Tuyết P kiện bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q yêu cầu trả tiền nợ hụi. Buộc bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị Tuyết P số tiền hụi là 25.100.000 đồng (hai mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).

Kể từ khi bà Võ Thị Tuyết P có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q chậm trả khoản tiền trên cho bà Võ Thị Tuyết P thì bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Kim T và ông Lữ Minh Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 1.255.000 đồng.

Bà Võ Thị Tuyết P đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 314.000 đồng theo biên lai số 0013922 ngày 19 tháng 10 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bà P được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


124
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/DS-ST ngày 07/03/2018 về tranh chấp hụi

Số hiệu:13/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Hiển - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về