Bản án 13/2017/HSST ngày 25/07/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 13/2017/HSST NGÀY 25/07/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25/7/2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2017/HSST ngày 11/5/2017 đối với bị cáo:

Trần Ngọc B - Sinh năm: 1977; sinh trú quán tại: Xóm 8, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: Lớp 8/12; con ông Trần Ngọc B và bà Mai Thị H - Trú tại: xã T, huyện N, Thanh Hóa; có 2 vợ: vợ thứ nhất đã ly hôn, vợ thứ 2: Phạm Thị T - Trú tại: xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có 2 con, con lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/6/2017 cho đến nay - Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 27/09/2016, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an huyện Nga Sơn lập tổ công tác tuần tra tại khu vực xóm 5, xã M (gần công ty may W), thì phát hiện có 02 nam giới đi xe mô tô màu vàng, đen gặp một nam giới đi bộ. Người đi bộ đưa tiền cho người điều khiển xe mô tô, người ngồi sau xe mô tô đưa cho người đi bộ 01 gói nhỏ. Nghi là các đối tượng vừa mua, bán ma túy, Công an huyện Nga Sơn đã tiến hành bắt giữ được đối tượng đi bộ, còn hai đối tượng đi xe mô tô bỏ chạy.

Đối tượng bị bắt giữ khai nhận tên Mai Thế B1, sinh năm 1978 ở xã T, huyện N. Công an huyện Nga Sơn thu giữ trên người B 01 gói nhỏ màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn, B1 khai đó là heroin vừa mua của hai người, người đàn ông ngồi sau xe đưa ma túy cho B1, còn người đàn ông điều khiển xe máy nhận tiền 200.000đ, cùng lúc đó, hai người đàn ông đó bỏ chạy, tôi cũng bỏ chạy và bị bắt. Người đàn ông đó tên B hay C gì đó, đi xe Sirius màu vàng, đen; điện thoại di động có 03 số cuối là 016, B1 gọi điện thoại hỏi mua heroin thì người đó hẹn chờ ở khu vực cây xăng gần Công ty may V, người này trước đó đã bán cho B1 một lần cùng H ở xã B, khi điện thoại cho B thì tôi giới thiệu tên là B2 ở xã V.

Cơ quan cảnh sát điều tra (CQCSĐT) đã tiến hành xác minh đối tượng tình nghi, lấy lời khai của Hỏa Văn Th và Trần Ngọc B, cả hai khai nhận:

Sáng ngày 27/09/2016, B gọi điện thoại rủ Th đi huyện H mua ma túy để sử dụng, Th đồng ý và dùng xe máy của Th nhãn hiệu Sirius BKS 36G1-11531 màu vàng đen đến nhà B. Khi gặp Th, B bảo Th góp 100.000đ, Th nói không có tiền, mà chỉ có tiền của mẹ Th, B nói cho B vay 100.000đ và hẹn chiều trả, Th đưa B vay 100.000đ rồi dùng xe máy của Th chở B đi đến chợ Lèn, huyện H, Th đứng ngoài chờ, còn B đi mua ma túy. Khi mua được ma túy, Th chở B về theo đường đê Bình Lâm, huyện H, đến một ngôi nhà hoang thì cả hai vào sử dụng ma túy. Khi đang sử dụng ma túy thì có B1 gọi điện thoại cho B hỏi mua 100.000đ ma túy, B đồng ý và nói giờ đang ở huyện H cứ chờ ở công ty may W, đồng thời B san chia số ma túy vừa mua thành các gói nhỏ và bảo Th về.

Trên đường về gần cầu Báo Văn (ranh giới giữa huyện H và huyện N) thì B1 gọi điện cho B hỏi mua 200.000đ, B đồng ý. Về đến công ty may W thuộc địa phận xã M, huyện N, nhìn thấy B1 thì tại khu vực xóm 5, xã M (gần công ty may W)  bảo Th dừng xe lại, Th dừng xe, B1 dúi vào tay Th 200.000đ còn B đưa cho B1 gói heroin. Cùng lúc đó Công an huyện Nga Sơn phát hiện, B bảo Th công an đấy chạy đi, Th điều khiển xa máy chở B chạy về Cồn cát xã Th và đưa cho B 200.000đ rồi cùng B sử dụng nốt số ma túy còn lại. B trả cho Th 100.000đ còn 100.000đ B chi tiêu cá nhân.

Ngày 02/10/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nga Sơn ra Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định thành phần, trọng lượng, 01 gói chất bột màu trắng dạng cục vụn thu giữ của Mai Thế B1 đã được niêm phong trong 01 phong bì. Tại bản Kết luận giám định số 1447/MT-PC54 ngày 05/10/2016, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong gửi giám định có trọng lượng 0.042g, có heroin. Số heroin còn lại sau giám định là 0,010g.

Ngày 07/6/2017, Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn đã ra quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định hàm lượng heroin có trong 0,010g chất màu trắng dạng cục vụn. Tại bản Kết luận giám định số 1394/MT-PC54 ngày 30/6/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định có hàm lượng heroin là 61,27% (Hoàn lại đối tượng giám định là toàn bộ bao gói niêm phong, mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Ngày 24/10/2016, CQCSĐT Công an huyện Nga Sơn đã thu giữ của Trần Ngọc B 01 sim điện thoại di động có số thuê bao 0962396016, B khai nhận đó là chiếc sim B đã dùng liên lạc để bán heroin cho B1 vào ngày 27/09/2016.

Ngày 30/09/2016, CQCSĐT Công an huyện Nga Sơn đã thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiện Sirius màu vàng, đen BKS 36G1 - 11531 của Hỏa Văn Th. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe không liên quan đến hành vi phạm tội của B  nên CQCSĐT đã trả lại cho Hỏa Văn Th.

Quá trình điều tra còn làm rõ: Ngoài lần bán ma túy cho B1 như trên, B còn thực hiện hành vi bán ma túy cho các đối tượng sau:

- Ngày 22/09/2016, tại xóm 3, xã B, huyện N, B bán cho Nguyễn Văn Đ ở xóm 3, xã B 01 gói ma túy lấy 100.000đ.

- Ngày 24/09/2016 cũng tại xóm 3, xã B, huyện N, B bán cho Lê Văn H ở xóm 2, xã B 01 gói ma túy lấy 100.000đ.

Trong vụ án này có Hỏa Văn Th là người chở B đi mua heroin để sử dụng, nhưng sau đó B bán heroin cho B1 thì Th hoàn toàn không biết nên CQCSĐT đã xử lý hành chính mà không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Th là phù hợp.

Các đối tượng Nguyễn Văn Đ, Lê Văn H mua ma túy của B sử dụng đã bị CQCSĐT xử lý hành chính.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 11/CTr-VKS-MT ngày 09/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Ngọc B  phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm o, p khoản 1 Điều 46; Điều 33; điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 2009; bố bị cáo là ông Trần Ngọc B được tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng nên bị cáo B được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS; để xử phạt Trần Văn B từ 07 đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 01/6/2017; áp dụng Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy bao gói niêm phong vật chứng; truy thu của B số tiền 400.000đ có được do bán ma túy.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc B đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai của bị cáo, lời khai và bản tự khai của người làm chứng, phù hợp và thống nhất với các tài liệu có trong hồ sơ, đã có căn cứ xác định: Sáng ngày 27/9/2016, tại đoạn đường khu vực cổng Công ty may W thuộc địa phận xã M, Trần Văn B đã bán cho Mai Thế B1 01 gói ma túy có trọng lượng 0,010g và hàm lượng 61,27% heroin, với giá 200.000đ để sử dụng, thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn bắt quả tang. Quá trình điều tra, B tự khai nhận hành vi trước đó:

- Ngày 22/09/2016, tại xóm 3, xã B, huyện N, B bán cho Nguyễn Văn Đ ở xóm 3, xã B 01 gói ma túy lấy 100.000đ.

- Ngày 24/09/2016 cũng tại xóm 3, xã B, huyện N, B bán cho Lê Văn H ở xóm 2, xã B 01 gói ma túy lấy 100.000đ.

Như vậy, hành vi mua ma túy về sử dụng và bán nhiều lần cho nhiều người nhằm mục đích kiếm lời của bị cáo, đã có đủ cơ sở kết luận: Trần Ngọc B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của VKSND huyện Nga Sơn truy tố Trần Ngọc B ra trước Tòa án ND huyện Nga Sơn để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về hậu quả đối với xã hội của hành vi phạm tội: Tệ nạn ma túy để lại hậu quả rất xấu đối với xã hội, gây tác hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người nghiện. Mặc dù biết rõ tác hại của ma túy, nhưng bị cáo vì ham chơi, đua đòi dẫn đến nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng bị cáo không kể ngày hay đêm, bất chấp sự can ngăn của gia đình, sự lên án của xã hội đã mua ma túy về vừa sử dụng vừa bán kiếm lời để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý về ma túy của Nhà nước.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm o vì bị cáo đã tự thú các hành vi phạm tội trước đó và điểm p là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. Mặt khác, bố bị cáo là ông Trần Ngọc B được tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng (là người có công với cách mạng). Do vậy, theo tinh thần của Nghị quyết số 144 ngày 29/6/2016 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Từ những nhận xét trên, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo phạm phải, cần xử tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo.

Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu của bị cáo đã dùng hết để giám định chỉ còn phong bì niêm phong mẫu vật đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện nga Sơn là vật chứng vụ án cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 400.000đ bị cáo bán ma túy cần truy thu sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016; khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Trần Ngọc B 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01/6/2017).

- Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh phát hành (theo biên bản giao nhận mẫu vật sau giám định ngày 10/7/2017 giữa Tòa án nhân dân huyện và Chi cục THADS huyện Nga Sơn); Truy thu của bị cáo Trần Ngọc B số tiền 400.000đ để sung quỹ Nhà nước.

- Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THDS.


156
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về