Bản án 13/2017/DS-ST ngày 11/08/2017 về tranh chấp hợp đồng giao khoán

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 13/2017/DS-ST NGÀY 11/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GIAO KHOÁN

Ngày 11 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Búk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 34/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2017. Về Việc:Tranh chấp hợp đồng giao khoán, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2017/QĐXX-ST ngày 26 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA. (Viết tắt: công ty TNHH MTV cà phê PA)

Địa chỉ trụ sở: Km 26, Quốc lộ 26, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện pháp luật: Ông Hồ Sỹ Tr – chức vụ: Tổng giám đốc Công ty.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Nhị H – Chức vụ: Phụ trách pháp chế (văn bản ủy quyền số 07/GUQTA2017, ngày 15/5/2017) – Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L.

Địa chỉ: Thôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt. (Bà L đã được cấp, tống đạt, niêm yết hợp lệ thủ tục tố tụng).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/3/2017, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 08/12/2014 bà Nguyễn Thị L ký hợp đồng giao – nhận khoán chăm sóc vườn cây cá phê – cây bơ với công ty TNHH MTV cà phê PA. Theo hợp đồng bà L nhận chăm sóc vườn cây với diện tích 0,87ha với tổng số 947 cây cà phê (trong đó trồng năm 1995 là 882 cây, trồng năm 2003 là 65 cây). Thời gian giao nhận khoán là 06 năm, kể từ ngày 08/12/2014 đến ngày 31/3/2020. Hằng năm công ty đầu tư phân bón theo định mức trong hợp đồng, áp dụng tiến độ khoa học kỹ thuật, thực hiện chương trình cà phê bền vững, tổ chức tưới nước, quyết định các biện pháp quản lý, đầu tư, phòng trừ sâu bệnh… Còn bà Nguyễn Thị L thực hiện việc chăm sóc vườn cây dưới sự kiểm tra, giám sát của công ty. Tổng sản lượng cà phê giao khoán bà L phải nộp cho công ty từng vụ thu hoạch sản phẩm được ghi chi tiết, cụ thể trong hợp đồng giao khoán. Thời gian đầu nhận khoán bà L thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng nhập 100 % sản lượng thu hoạch về công ty và sản lượng cà phê vượt khoán các vụ trước đó của bà L, công ty đã thực hiện chi trả theo đúng quy định và các bên không có tranh chấp gì.

Việc thu hoạch cà phê trên vườn phải đảm bảo theo đúng hợp đồng và các quy định của công ty, người nhận khoán phải nộp toàn bộ sản lượng cà phê thu hoạch trên vườn cây ngay sau khi thu hoạch. Tuy nhiên, niên vụ cà phê năm 2016 - 2017, bà L đã không thực hiện đúng như cam kết trong hợp đồng giao nhận khoán. Toàn bộ sản lượng cà phê thu hái trên vườn cây bà L đã tự ý mang về nhà mà không nhập về công ty như cam kết trong hợp đồng. Công ty đôn đốc và nhắc nợ nhiều lần nhưng bà L vẫn cố tình vi phạm và có thái độ không hợp tác với công ty.

Sản lượng cà phê niên vụ 2016 - 2017 bà L phải nộp là 7.385 kg cà phê quả tươi (trong đó sản lượng nộp khoán là 7.170 kg, quỹ dự phòng vườn cây là 143 kg, quỹ phúc lợi người nhận khoán là 72kg) ngoài ra bà L phải chịu thêm 86 kg cà phê quả tươi là chi phí bảo vệ niên vụ năm 2016 - 2017 (theo quy định tại điểm h, mục 3.2.1 điều 5 hợp đồng giao nhận khoán). Đến ngày 26/12/2016 công ty đã quyết định không thu quỹ dự phòng vườn cây và quỹ phúc lợi người nhận khoán nên bà L chỉ còn phải nộp 7.256 kg cà phê quả tươi về công ty. Như vậy, tổng sản lượng cà phê quả tươi bà L phải nộp niên vụ năm 2016 - 2017 là 7.256kg cà phê quả tươi.

Mặc dù phía công ty đã nhiều lần xuống làm việc yêu cầu bà L phải nộp sản lượng khoán nhiều lần nhưng bà L không nộp và không hợp tác với công ty. Vì vậy, Công ty làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Krông Búk giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho công ty là 7.256 kg cà phê quả tươi.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu được rút một phần yêu cầu khởi kiện, đối với yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị L phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 87/AP/HĐGK được ký kết vào ngày 08/12/2014 giữa Công ty TNHH MTV cà phê PA với bà Nguyễn Thị L vì hợp đồng giữa Công ty và bà L đã tuân thủ về hình thức, nội dung là phù hợp quy định tại Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ và Bộ luật dân sự năm 2005 nên đương nhiên bà L phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nên tại phiên tòa phía công ty rút yêu cầu về phần này.

Về phía bị đơn bà Nguyễn Thị L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần và được giao thông báo, cấp, tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn không tham gia tố tụng, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án không tiến hành hòa giải được.

Ngày 17/7/2017 Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị L vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn mặc dù đã được cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn cố tình trốn tránh không thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ nội dung, quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH MTV cà phê PA yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L phải trả sản lượng cà phê quả tươi của niên vụ năm 2016 - 2017 với số lượng là 7.256  kg cà phê quả tươi là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhị H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án buộc bà L phải tiếp tục thực hiện hợp đồng là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần được rút theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị L là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là loại việc tranh chấp hợp đồng giao khoán thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và còn trong thời hiệu khởi kiện theo theo quy định quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 429, điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân huyện Krông Búk thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy quy đinh tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Thấy rằng, hợp đồng kinh tế về việc giao – nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 87/AP/HĐGK được ký kết vào ngày 08/12/2014 giữa Công ty TNHH MTV cà phê PA với bà Nguyễn Thị L là hợp đồng song vụ có thời hạn, khi thực hiện việc giao kết hợp đồng giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, việc ký kết hợp đồng đúng đối tượng, đảm bảo các căn cứ giao khoán và nhận khoán, việc lập hợp đồng đúng về hình thức, nội dung đảm bảo quy định pháp luật nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa hai bên, theo đó bên nhận khoán là bà L có nghĩa vụ phải nộp 100% sản phẩm cà phê thu hoạch trên vườn cây cà phê và phải nhập cho Công ty, sau khi nộp đủ sản lượng cà phê của từng vụ theo yêu cầu của công ty thì sản lượng vượt khoán sẽ được Công ty chi trả theo quy định. Từ khi nhận khoán chăm sóc diện tích 0,87ha cà phê, bà L đã nộp đủ 100% sản lượng cà phê quả tươi vụ năm 2014 - 2015 với tổng sản lượng nhập về là 13.376 kg cà phê quả tươi, trong đó sản lượng vượt khoán của bà L là 5.490 kg cà phê quả tươi, công ty đã thực hiện chi trả cho bà L theo quy định; vụ năm 2015 - 2016 với tổng sản lượng nhập về là 20.667,5 kg cà phê quả tươi, trong đó sản lượng vượt khoán vụ này của bà L là 13.282 kg cà phê quả tươi, công ty đã thực hiện chi trả cho bà L theo quy định.

Nhưng vụ cà phê năm 2016 - 2017 bà L đã không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng, toàn bộ sản phẩm cà phê thu hái trên vườn cây bà L đã tự ý mang về nhà, công ty đã đôn đốc, nhắc nhở, lập biên bản về việc bà L thu hái cà phê nhưng không cân nhập cho Công ty. Công ty cũng đã có Thông báo yêu cầu bà L thực hiện nội quy, quy định và hợp đồng giao – nhận khoán; Thông báo về việc yêu cầu bà L giao nộp sản lượng cà phê và các khoản công nợ trong niên vụ năm 2016 -2017 nhưng bà L vẫn không thực hiện.

Tổng sản lượng cà phê niên vụ 2016 - 2017 bà L phải nộp là 7.385 kg cà phê quả tươi (trong đó sản lượng nộp khoán là 7.170 kg, quỹ dự phòng vườn cây là 143 kg, quỹ phúc lợi người nhận khoán là 72kg) ngoài ra bà L phải chịu thêm 86 kg cà phê quả tươi là chi phí bảo vệ niên vụ năm 2016 - 2017 (theo quy định tại điểm h, mục 3.2.1 điều 5 hợp đồng giao nhận khoán). Ngày 26/12/2016 phía Công ty đã quyết định không thu quỹ dự phòng vườn cây và quỹ phúc lợi người nhận khoán, nên bà L chỉ còn phải nộp sản lượng khoán là 7.170 kg cà phê quả tươi về công ty, cộng với 86 kg cà phê quả tươi là chi phí bảo vệ năm 2016 - 2017. Tổng sản lượng cà phê quả tươi bà L phải nộp niên vụ 2016 - 2017 là 7.256 kg cà phê quả tươi. Thấy rằng, việc bà Nguyễn Thị L không nộp sản lượng cà phê là vi phạm nghĩa vụ của bên nhận khoán theo hợp đồng giao - nhận khoán đã ký kết gây ảnh hưởng đến lợi ích của công ty TNHH MTV cà phê PA nên xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV cà phê PA về việc buộc bà Nguyễn Thị L phải trả sản lượng cà phê niên vụ năm 2016 - 2017 với tổng sản lượng 7.256 kg cà phê quả tươi là có căn cứ, cần chấp nhận.

Đối với yêu cầu của Công ty TNHH MTV cà phê PA về việc buộc bà Nguyễn Thị L phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết với Công ty, mặc dù tại đơn khởi kiện, ngày 27 tháng 3 năm 2017   Công ty TNHH MTV cà phê PA đã yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhị H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện này. Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ khoản 2 Điều 244 BLTTDS 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty TNHH MTV cà phê PA về việc buộc bà Nguyễn Thị L phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết với Công ty TNHH MTV cà phê Phước An; nếu sau này Công ty TNHH MTV cà phê PA khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác. Công ty TNHH MTV cà phê PA không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

[3] Về án phí: Theo kết quả xác minh, giá cà phê quả tươi theo giá thị trường tại thời điểm xét xử vụ án là 9.900 đồng/kg.

Do yeâu caàu khởi kiện cuûa nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật (7.256 kg x 9.900 x 5% =3.591.000đ). Hoàn trả tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 412, 414 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ.

Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí  Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA.

- Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA số lượng 7.256 kg cà phê quả tươi.

- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA về việc buộc bà Nguyễn Thị L phải thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng kinh tế về việc giao - nhận khoán chăm sóc vườn cây cà phê – cây bơ số 54/AH/HĐGK ngày 08/12/2014 đã ký kết với Công ty TNHH MTV cà phê PA. Nếu có tranh chấp thì Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA có quyền khởi kiện lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về án phí:

- Buộc bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.591.000đ (ba triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

- Hoàn trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA số tiền 1.838.000 đồng (Một triệu tám trăm ba mươi tám nghìn đồng) tạm ứng án phí do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cà phê PA đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Búk theo Biên lai thu tiền số: 0038217 ngày 29/3/2017.

3. Về quyền kháng cáo:

- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


385
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về