Bản án 131/2018/HS-PT ngày 22/03/2018 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 131/2018/HS-PT NGÀY 22/03/2018 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/TLHS-PT ngày 03-01-2018 đối với bị cáo Lương Văn T bị xét xử sơ thẩm về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số 26/2017/HSST ngày 28-11-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

* Bị cáo có kháng cáo: Lương Văn T (58) (Lương Văn N), sinh ngày 29-9-1978; nơi sinh huyện T, tỉnh Nghệ An; ĐKNKTT và cư trú tại bản S, xã T, huyện K, tỉnh Nghệ An; dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn : Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tụ do; con ông Lương Thu V (đã chết) và bà Vi Thị T; có vợ Vi Thị Bích N (đã ly hôn năm 2013) ; có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001); bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15-6-2017 theo Quyết định tạm giữ số 29 ngày 15-6-2017 từ 23giờ 40 phút ngày 15-6-2017 (BL 09); có mặt.

Tiền án: Bản án số 70/2005/HSST ngày 23-3-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt Lương Văn T 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 07 năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 14 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 23-9-2015 (BL 51-56).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đinh Quốc H – Văn phòng luật sư Số 1, Đoàn luật sư tỉnh N; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nội dung các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa được tóm tắt như sau: Hồi 21giờ 20 phút ngày 15-6-2017, trên Quốc lộ 1A (thuộc địa phận Tổ 20, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình), Công an tỉnh Ninh Bình kiểm tra xe ô tô khách BKS 14B-025.61 đã phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ của Lương Văn T: 01 ba lô mầu đen đựng một hộp giấy mầu xanh trắng, bên trong hộp giấy là túi nilon mầu đen, tiếp theo là túi nilon mầu trắng đựng 05 gói hình chữ nhật có kích thước 15,5 x 10 x 02 cm đều được gói bằng giấy mầu xanh và có lớp bọc giấy nilon màu trắng, T khai là 05 “bánh” Heroin; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen đã cũ và một số tài sản khác (BL 19). Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng nghi ma túy đều có sự chứng kiến của Lương Văn T (BL 23,24).

Kết luận giám định số 150/KLGĐ-PC45-MT ngày 20-6-2017 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Ninh Bình (BL 30-35) xác định: Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong năm gói (“bánh”) thu giữ được là 1.767,86g. Lấy các mẫu chất bột dạng cục ký hiệu từ MI đến M5 gửi giám định có khối lượng MI = 37,33g/352g; M2 = 33,86g/350,87g; M3 = 30,88g/356,44g; M4 = 43,90g/354,05g; M5 = 31,52g/353,66g. Mẫu chất bột dạng cục mầu trằng gửi giám định ký hiệu từ MI đến M5 trong năm gói (“bánh”) thu giữ được đều là chất ma túy loại Heroin thuộc bảng danh mục I, số thứ tự 20 Nghị định số 82/2013NĐ-CP ngày 19-7-2013 của Chính phủ. Mẫu vật hoàn lại đối tượng giám định gồm MI =36,13g; M2 = 32,73g; M3 = 27,67g; M4 = 41,54g; M5 = 30g.

Tại Cơ quan điều tra, Lương Văn T khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 14-6- 2017 T gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi không biết tên, địa chỉ tại khu rừng thuộc xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Người đàn ông làm quen và xin số điện thoại của T nhưng không cho T biết số điện thoại của họ, sau đó người đàn ông này đã thuê T mang 05 “bánh” Heroin đến khu vực BigC tỉnh Ninh Bình với giá là 20.000.000 đồng và hẹn sẽ chủ động liên lạc với T để lấy số Hê rô in và trả tiền công cho T. Sau khi đã thỏa thuận thống nhất, người đàn ông lái xe máy chở T cùng với 05 “bánh” Heroin đi về nhà T. Tại đây, T cho 05 “bánh” Heroin vào hộp giấy màu xanh trắng và gói lại. Sáng ngày 15-6-2017 T bỏ hộp giấy có 05 “bánh” Heroin và quần áo tư trang vào ba lô để chuẩn bị đi Ninh Bình thì cùng lúc đó người đàn ông cũng đi xe máy đến và chở T ra bến xe huyện T để đi ô tô khách ra Ninh Bình. Khi xe này chạy đến khách sạn Mường Thanh, thuộc thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An dừng lại bốc hàng thì T chuyển sang đi xe ô tô khách khác BKS B của nhà xe Ka Long chạy tuyến Vinh - Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh để đi ra Ninh Bình. Trên đường đi đến khu vực thành phố T thì bị Công an kiểm tra bắt giữ người cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 19-10-2017, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lương Văn T về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2017/HSST ngày 28-11-2017, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T (Lương Văn N) phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm g khoản 1Điều 48; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T (Lương Văn N) tử hình; hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về việc xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo và quyền xin ân giảm án tử hình theo luật định.

Ngày 30-11-2017, bị cáo Lương Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt (BL 187).

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Lương Văn T khai nhận rõ hành vi của mình là nhận vận chuyển thuê 05 “bánh” Heroin từ huyện T, tỉnh Nghệ An ra thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình cho một người đàn ông không rõ địa chỉ với tiền công là 20.000.000đ, trên đường đi đến khu vực thành phố T thì bị Công an kiểm tra bắt giữ người cùng ma túy. Trước đây có lúc bị cáo hoang mang nên khai không biết hàng nhận vận chuyển là ma túy, nay bị cáo rất ân hận, thành khẩn khai báo nhận tội xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo cho rằng Cơ quan điều tra vi phạm tố tụng vì không kịp thời yêu cầu người bào chữa cho bị cáo; bị cáo thành khẩn nhận tội là tình tiết giảm nhẹ, vì vậy đề nghị giảm hình phạt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên toà: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện lời khai của bị cáo, lời trình bày của những người tham gia tố tụng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lương Văn T khai nhận khi đang vận chuyển 05 “bánh” Heroin để trong chiếc ba lô cá nhân đem từ nhà đi trên xe khách BKS BKS B bị Công an phát hiện bắt giữ. Số ma túy này của một người không rõ địa chỉ trả T 20.000.000đ công vận chuyển. Quá trình thu giữ vật chứng, lấy mẫu giám định đều được lập biên bản có sự chứng kiến của bị cáo. Lời khai trên đây phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với số lượng ma túy bị thu giữ, nên có căn cứ xác định bị cáo Lương Văn T đã vận chuyển trái phép chất ma túy theo kết quả giám định là 1.767,86g Heroin. Hành vi của bị cáo Lương Văn T đã phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 như Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm có nhận xét như sau: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, số lượng ma túy bị cáo vận chuyển trái phép là 1.767,86 gam, lớn gấp nhiều lần so với khung hình phạt quy định Heroin từ 100g trở lên. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ nên xử phạt bị cáo mức án cao nhất của khung hình phạt là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhưng do tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng nên không có cơ sở giảm hình phạt, vì vậy kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Văn T (Lương Văn N), giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 26/2017/HSST ngày 28-11-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn T (Lương Văn N) tử hình về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy; hình phạt bổ sung phạt tiền bị cáo 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung quỹ Nhà nước. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tuyên Bản án phúc thẩm, bị cáo Lương Văn T (Lương Văn N) có quyền gửi đơn xin ân giảm án tử hình lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


129
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 131/2018/HS-PT ngày 22/03/2018 về tội vận chuyển trái phép chất ma túy

    Số hiệu:131/2018/HS-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:22/03/2018
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về