Bản án 130/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 130/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 465/2020/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Hồng C, sinh năm 1982; thường trú: Số 97/4B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh B; địa chỉ sinh sống hiện nay: Tổ 5, ấp L, xã T, huyện D, tỉnh B. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng H, sinh năm 1983; thường trú: Số 97/4B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh B; tạm trú: Số 68/2A, đường ĐT743, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh B.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 5 năm 2020, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Tô Thị Hồng C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Hồng C và anh Nguyễn Hùng H tìm hiểu nhau một thời gian thì tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phường T, thành phố D), tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 168/KH/2010, quyển số 01, ngày 29/11/2010. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống cùng gia đình chồng tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh B. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau, anh H uống rượu về đe dọa chửi bới, đánh đập gây thương tích cho chị C, ảnh hưởng đến tinh thần chị và các con. Khoảng tháng 5/2020, sau khi vợ chồng xảy ra cãi vã và bị anh H đánh, chị đã đưa các con về nhà ba mẹ ruột ở huyện D, tỉnh B sinh sống và vợ chồng chị ly thân cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Hùng H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 01/9/2011 và Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 28/7/2016. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh Nguyễn Hùng H cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

 quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải Nghĩa vụ chung về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 01 tháng 7 năm 2020, bị đơn anh Nguyễn Hùng H trình bày:

Do có mẫu thuẫn trong gia đình nên chị C nộp đơn xin ly hôn. Nay anh xác định còn thương vợ và con còn nhỏ nên mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng chăm sóc con chung.

- Biên bản xác minh ngày 07/7/2020 tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường T thể hiện: Hội liên hiệp phụ nữ phường không nhận được đơn đề nghị hòa giải cơ sở về quan hệ hôn nhân giữa chị Tô Thị Hồng C với anh Nguyễn Hùng H, đồng thời Hội cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Hùng H đã được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 11/9/2020, 29/9/2020 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Hồng C và anh Nguyễn Hùng H là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 168/KH/2010, quyển số 01, ngày 29/11/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phường T, thành phố D), tỉnh B nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị C xác định qua trinh chung sông vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn  , cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H thường xuyên ghen tuông vô cớ, vợ chồng cãi vã bình thường không to tiếng nhưng đi nhậu về thường lấy lí do đánh đập chị trước mặt con. Trình bày của chị C cũng phù hợp với tài liệu chị C cung cấp, lời trình bày của con chung về việc ba đi làm về say xỉn có đánh mẹ một số lần. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Anh H thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, vẫn còn yêu thương vợ con, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên việc anh H có hành vi đánh chị C là hành vi bạo lực gia đình,vi phạm quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng được pháp luật bảo vệ. Mâu thuẫn giữa hai anh chị thực sự trầm trọng, vợ chồng hiện đã ly thân. Tòa án mở phiên hòa giải để hòa giải quan hệ hôn nhân cho anh chị thì anh H vắng mặt không có lý do, không đưa ra phương hướng để khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Như vậy, chứng tỏ tình cảm vợ chồng anh chị không thê han găn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn của chị C là có căn cứ theo quy đinh tai Điêu 56 Luât Hôn nhân va gia đinh năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 01/9/2011 và Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 28/7/2016. Chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu anh Nguyễn Hùng H cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chưa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, quá trình chung sống cháu K và cháu Đ vẫn được chị C chăm sóc, phát triển tốt. Chị C hiện buôn bán tại chợ, chị khai thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng đảm bảo cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, ngoài ra còn có ông bà ngoại phụ giúp nuôi dưỡng. Anh H được Tòa án triệu tập làm việc nhiều lần nhưng đều vắng mặt, anh không đưa ra ý kiến về vấn đề con chung cũng như không phản đối việc chị C yêu cầu nuôi con. Vì vậy, chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng. Xét đây là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung trong trường hợp không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Mức cấp dưỡng theo yêu cầu của chị C cũng phù hợp với chi phí trung bình tại địa phương. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị C về việc buộc anh H cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.500.000 đồng/tháng. Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sư không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[5] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An Dĩ An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tô Thị Hồng C phải chịu án phí ly hôn; anh Nguyễn Hùng H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy đinh cua pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Hồng C đối với anh Nguyễn Hùng H về việc ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Hồng C được ly hôn với anh Nguyễn Hùng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 168/KH/2010, quyển số 01, ngày 29/11/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phường T, thành phố D), tỉnh B cấp).

- Về con chung: Anh Nguyễn Hùng H giao con chung là Nguyễn Ngọc K, sinh ngày 01/9/2011 và Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 28/7/2016 cho chị Tô Thị Hồng C tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hùng H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng. Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện từ khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Sau ly hôn, chị Tô Thị Hồng C và anh Nguyễn Hùng H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trường hợp anh H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì chị C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

Kể từ ngày chị Tô Thị Hồng C có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Nguyễn Hùng H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì hàng tháng anh Nguyễn Hùng H phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tô Thị Hồng C phải chịu 300.000 (ba trăm nghin ) đông an phi ly hôn, đươc khấu trư vao tiên tam ưng an phi đa nôp theo biên lai sô 0040631 ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sư thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Anh Nguyễn Hùng H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 130/2020/HNGĐ-ST ngày 29/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:130/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về