Bản án 130/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 130/2020/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

218/2020/TLST-HNGĐ ngày 16/4/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Hồng Trường H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/3/2020 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Vào năm 2016 chị T và anh H được 02 bên gia đình tổ chức đám cưới với nhau, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L vào ngày 29/7/2016 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 74/2016). Thời kỳ hôn nhân có 01 con chung tên Hồng Hiền T, sinh 01/3/2013.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị T xác định trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cự cải với nhau, nên dẫn đến đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng và không còn hạnh phúc, đời sống chung hiện nay không thể kéo dài.

Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh H; về con chung đồng ý giao cho anh H nuôi, chị T không cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết. Đồng thời đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Anh H thống nhất ly hôn với chị T. Anh H yêu cầu nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nH định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị T xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh H mâu thuẫn trầm trọng, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là đúng theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị T khởi kiện anh H về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con và anh H có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về thủ tục: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét về yêu cầu ly hôn: Mối quan hệ hôn nhân của chị T và anh H được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân tiến bộ là vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau; nhưng chị T và anh H không làm được điều đó mà lại làm cho đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, hơn nữa chị T và anh H thống nhất ly hôn với nhau, do đó xác định chị T và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến các hệ lụy nêu trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân này sẽ không đảm bảo hạnh phúc về sau, nên cần chấp nH cho chị T được ly hôn với anh H là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. (Giấy chứng nH kết hôn số: 74/2016 ngày 29/7/2016 của UBND xã L hết hiệu lực kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).

[4] Xét về con chung: - Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy chị T và anh H thỏa thuận giao con chung tên Hồng Hiền T cho anh H nuôi dạy, do đó cần giao con chung cho anh H nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này và chị T phải tôn trọng quyền của con chung được sống với anh H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Anh H xác định đủ điều kiện nuôi dạy con chung đến tuổi trưởng thành, nên không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của anh H, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[6] Xét về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị T đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị T.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Hồng Trường H.

- Về con chung: Giao cho anh H trực tiếp nuôi dạy con chung tên Hồng Hiền T, sinh 01/3/2013. Chị T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản chị T thực hiện quyền này và chị T phải tôn trọng quyền của con chung được sống với anh H. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T có trách nhiệm giao cháu T cho anh H nuôi dạy.

2. Về án phí sơ thẩm:

Chị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị T đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số: 0003456 ngày 16/4/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nH được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 130/2020/HNGĐ-ST ngày 28/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:130/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về