Bản án 130/2020/HNGĐ-ST ngày 22/06/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẤN THƠ

BẢN ÁN 130/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/06/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 22 tháng 06 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 302/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2020/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà L Thị Huỳnh L, sinh năm 1989;

ĐKTT: Ấp Đ, Thị trấn N, huyện T, Tỉnh A.

- Bị đơn : Ông Trần Nhứt T, sinh năm 1990.

ĐKTT: Ấp T, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP. Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 - Trong Đơn khởi kiện ngày 04 tháng 6 năm 2019 cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị L Thị Huỳnh L trình bày: Chị và anh T qua tìm hiểu tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân Thị Trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Chị L và anh T chung sống với nhau có 01 con chung tên Trần L Bảo N (nữ), sinh ngày 23/01/2013. Về tài sản chung và nợ chung: không có. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc sau đó có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cải và anh T đã sống ly thân với chị L từ năm 2013 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L làm đơn yêu cầu ly hôn với anh T. Về con chung chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu N vì hiện nay cháu đang sống cùng chị L, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung là không có.

- Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng phía bị đơn vẫn vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh T, về con chung chị L và anh T chung sống với nhau có 01 con chung tên: Trần L Bảo N (nữ), sinh ngày 23/01/2013, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp: Chị L có Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp ly hôn”. Loại tranh chấp này thuộc ngành Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: do bị đơn anh Trần Nhứt T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T là phù hợp.

[3] Xét thấy giữa chị L và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cải. Mặc dù hai bên đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không đạt kết quả, anh chị đã sống ly thân với nhau từ nhiều năm nay. Nay mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L có Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T. Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình Tòa án giải quyết đã triệu tập hợp lệ đối với anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ anh T không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, nếu duy trì hôn nhân thì mục đích hôn nhân vẫn không đạt được, cuôc sống hôn nhân không thê keo dai nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L đối với anh T.

[4] Về con chung: Chị L và anh T chung sống với nhau có 01 con chung tên Trần L Bảo N (nữ), sinh ngày 23/01/2013, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N, nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Trần L Bảo N cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Do chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: không có.

[6] Về nợ chung: không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử : Chấp nhận Đơn khởi kiện của chị L Thị Huỳnh L.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị L Thị Huỳnh L ly hôn với anh Trần Nhứt T.

- Về con chung: Giao cháu Trần L Bảo N (nữ), sinh ngày 23/01/2013 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho anh T, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về án phí: Chị L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 015343 ngày 03/12/2019 thành án phí xem như chị L đã nộp xong.

Đương sự có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ tiếp theo của ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 130/2020/HNGĐ-ST ngày 22/06/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:130/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Lai - Cần Thơ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về