Bản án 129/2020/HS-PT ngày 23/11/2020 về tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 129/2020/HS-PT NGÀY 23/11/2020 VỀ TỘI SỬ DỤNG CON DẤU HOẶC TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN TỔ CHỨC

Ngày 23 tháng 11 năm 2020 tại Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Lâm Hà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 163/2020/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo Phạm Quốc V; do có kháng cáo của bị cáo Vương đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2020/HS-ST ngày 01/09/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Phạm Quốc V; sinh năm 1992 tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: Thôn 5, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn P, xã PH, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá:

10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công Kh và bà Phạm Thị Thu V; vợ Lê Thị Mỹ H, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hương không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/9/2019, Văn Phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Lâm Hà có công văn thông báo về việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 của UBND huyện Lâm Hà ngày 17/8/2009 đứng tên Phạm Quốc V có dấu hiệu giả mạo. Thu thập giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 đứng tên người sử dụng đất là Phạm Quốc V, sinh năm 1992, địa chỉ thường trú: Thôn R’Lơm, xã Đạ đờn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng với các thông tin trên giấy được xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện Lâm Hà không có hồ sơ gốc lưu giữ và hiện trạng thực tế không đúng với các thông tin trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 của Phạm Quốc V.

Ngày 20/9/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận giám định số 1416/GĐ-PC09 đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670, đề ngày 17/8/2009 nội dung trên giấy chứng nhận bị cạo xóa, in lại, không xác định được nội dung ban đầu.

Qua điều tra Phạm Quốc V khai nhận vào khoảng tháng 10/2017, Lê Thị Uyên, sinh năm 1975, HKTT: Thôn Liên Kết, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng là chị vợ của Vương đi cùng một người thanh niên đến nhà Vương và nói với Vương là có biết một đường dây làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mạo để thế chấp vay vốn ngân hàng, đồng thời hứa hẹn nếu vay được Uyên sẽ cho tiền để làm ăn, thì Vương đồng ý đứng tên trên giấy chứng nhận giả. Vương đưa cho Uyên chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy đăng ký kết hôn của mình để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng một tháng sau Uyên liên lạc với Vương dặn khi nhân viên Ngân hàng đến thẩm định diện tích đất thì dẫn đến khu vực phía sau nhà Nguyễn Thị Lệ Liễu, sinh năm 1945, HKTT: Thôn An Phước, xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng là bà ngoại của Vương chỉ diện tích đất trên là diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 đang làm hồ sơ vay thế chấp, sau đó nhân viên Ngân hàng liên lạc với Vương để đi thẩm định giá đất thì được Vương dẫn đi chỉ diện tích đất theo chỉ dẫn của Uyên. Khoảng 01 tuần sau, Uyên hẹn Vương cùng vợ là Lê Thị Mỹ Hương đến khu vực xã N’ Thôn Hạ, huyện Đức Trọng rồi đưa cho Vương tập hồ sơ bên trong có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 đứng tên Vương và nói đến Văn phòng công chứng số 3, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng để làm thủ tục công chứng. Sau đó tất cả cùng đi xe taxi đến Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Đà Lạt ký hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 mà Uyên đưa cho Ngân hàng để vay số tiền 01 tỷ đồng. Sau khi vay được số tiền trên, Vương đưa cho Uyên 570 triệu đồng, số tiền còn lại Vương dùng làm ăn. Đến ngày 09/9/2019, Vương vay mượn tiền của bố mẹ trả vào Ngân hàng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Chi nhánh Đà Lạt và rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 đứng tên mình ra. Ngày 10/9/2019, Vương mang giấy chứng nhận trên đến Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện Lâm Hà đăng ký xóa thế chấp thì bị phát hiện.

Vật chứng vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 cấp ngày 17/8/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Lâm Hà.

Tại bản cáo trạng số 10/CT - VKS ngày 16 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Phạm Quốc V về tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại bản án số 54/2020/HS-ST ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử;

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc V phạm tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Quốc V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của bị cáo Ngày 07/9/2020 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, bị cáo thay đổi kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên mức hình phạt và áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Dựa trên lời nói và sự hướng dẫn của Lê Thị Uyên về việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để thế chấp vay Ngân hàng, bị cáo Vương đưa cho Uyên chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và giấy đăng ký kết hôn của mình để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670. Sau đó Vương dùng giấy này để thế chấp và vay được số tiền 1.000.000.000đ tại Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam, chi nhánh Đà Lạt. Vương đưa Uyên 570.000.000đ, còn lại Vương sử dụng, sau đó Vương đã trả toàn bộ số tiền vay cho Ngân hàng. Tại kết luận giám định số 1416/GĐ - PC 09 ngày 20/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 293670 đề ngày 17/8/2009 có nội dung bị cạo xóa, in lại, không xác định được nội dung ban đầu. Với hành vi trên, bị cáo Vương bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong hạn luật định nên được xem xét.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nhân thân bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và xử phạt 09 tháng tù là hoàn toàn phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình chứng cứ giảm nhẹ nào mới và thay đổi kháng cáo xin được hưởng án treo. Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Lâm Hà hiện nay có nhiều đối tượng sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để vay vốn Ngân hàng, làm giảm uy tín của cơ quan Nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm để đảm bảo giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Quốc V, giữ nguyên bản án sơ thẩm; xử:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Quốc V phạm tội: “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Quốc V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam giam thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Quốc V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


6
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về