Bản án 129/2020/HNGĐ-ST ngày 24/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 129/2020/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 24 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 506/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2020/QĐXXST-HN ngày 27 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Bà Lý Thị Tuyết M, sinh năm 1982 (Có mặt).

Thường trú: Số A, đường Nguyễn Văn T, Khóm E, Châu Phú A, Châu Đốc, An Giang.

Tạm trú: Số B đường LTHG, Phường F, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn : Ông Nguyễn Phan Duy A, sinh năm 1981 (Vắng mặt). Thường trú: Khóm 5, Châu Phú A, Châu Đốc, An Giang.

Tạm trú: Số B đường LTHG, Phường F, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn ly hôn, bản tự khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn chị Lý Thị Tuyết M trình bày: Chị và anh A sống chung vào năm 2000, đăng ký kết hôn trẽ hạn tại UBND phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang vào năm 2001.

Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung bình thường nhưng đến đầu năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong lối sống, tính tình không hòa hợp nên thường xuyên cãi vả. Thời gian dài chịu đựng đến nay đã không giải quyết được , tình cảm thực sự không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phan Duy A.

- Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Phan Minh K, sinh ngày 10/3/2001, Nguyễn Phan Hưng T, sinh ngày 02/11/2003 và Nguyễn Phan Thiên D, sinh ngày 15/11/2008. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T và cháu D, chị không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Phan Duy A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng anh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1].Về tố tụng:

Chị Lý Thị Tuyết M yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Phan Duy A. Anh A đăng ký tạm trú tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ qui định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định tranh chấp ly hôn, nuôi con, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.

Anh Nguyễn Phan Duy A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định tại các Điều 174, Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh A sống chung năm 2000, đăng ký kết hôn vào năm 2001, tại Ủy ban nhân dân Phường Châu Phú A, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Theo chị M trình bày quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tính không hòa hợp, lối sống bất đồng. Chị đã xin ly hôn rồi rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn, nhưng sau thời gian vẫn không thay đổi. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn không giải quyết được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn.

Anh Nguyễn Phan Duy A vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng không có văn bản trình bày ý kiến xem như anh từ bỏ các quyền của mình theo quy định tại Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2] Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh A là không thể hàn gắn vì đời sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Còn anh A đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng anh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết cũng không có văn bản trình bày ý kiến, xem như ông từ bỏ các quyền của mình và cũng thể hiện sự bỏ mặc, không tha thiết hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với chị M.

Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị được ly hôn với anh A.

[2.3] Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Phan Minh K, sinh ngày 10/3/2001, Nguyễn Phan Hưng T, sinh ngày 02/11/2003 và Nguyễn Phan Thiên D, sinh ngày 15/11/2008. Khi ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi con, cháu T và cháu D, chị không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi. Xét yêu cầu này của chị M là phù hợp vì cháu T và cháu D đều có nguyện vọng được sống với mẹ. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu T và cháu D cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng.

[2.4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.5] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Lý Thị Tuyết M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị Tuyết M.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Tuyết M được ly hôn với anh Nguyễn Phan Duy A.

2/ Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Phan Minh K, sinh ngày 10/3/2001 (đã trưởng thành), Nguyễn Phan Hưng T, sinh ngày 02/11/2003 và Nguyễn Phan Thiên D, sinh ngày 15/11/2008. Giao cho chị M trực tiếp nuôi cháu T và cháu D.

Ghi nhận chị M chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo qui định của pháp luật.

3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5/ Về án phí: Chị Lý Thị Tuyết M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001823 ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên chị đã nộp xong.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị M có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Anh A được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

331
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 129/2020/HNGĐ-ST ngày 24/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:129/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 24/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về