Bản án 129/2020/HNGĐ-ST ngày 20/08/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 129/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2020 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2020, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 390/2020/ HNGĐ-ST ngày 09 tháng 7 năm 2020 về việc yêu cầu xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 586/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1979 (có mặt) Địa chỉ cư trú: Số 237, đường Đ, khóm 8, phường 5, thành phố M, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Đỗ Đức D, sinh năm 1977 (vắng mặt) Địa chỉ cư trú: Số 237, đường Đ, khóm 8, phường 5, thành phố M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bà Nguyễn Thị M trình bày tại đơn khởi kiện và tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Bà và và ông Đỗ Đức D chung sống với nhau năm 1997, có đăng ký kết hôn tại quê gốc ở huyện Y, tỉnh Nam Định nhưng đã thất lạc mất giấy chứng nhận kết hôn lần đầu. Đến năm 2017 bà và ông D có đăng ký kết hôn lại tại ủy ban nhân dân phường 5, thành phố M, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian chung sống lúc đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian sau vợ chồng thường xuyên mâu thuẩn, cải vả, nguyên nhân do ông D không quan tâm chăm sóc vợ con. Nên vào tháng 4 năm 2020 bà đã nộp đơn xin ly hôn một lần và ông D cũng hứa sữa đổi để vợ chồng hàn gắn. Vì vậy, bà đã cho ông D cơ hội và rút lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, khi về chung sống vợ chồng lại có nhiều mâu thuẫn trầm trọng hơn. Nay bà yêu cầu xin ly hôn với ông D. Nếu Tòa án không chấp nhận cho bà ly hôn với ông D thì bà cũng không thể nào quay về chung sống với ông D được.

Về con chung: Bà và ông D có 02 con chung tên Đỗ Hồng L, sinh năm 2000 và Đỗ Quang V, sinh ngày 08/02/2008. Đối với Đỗ Hồng L hiện đã trưởng thành nên không yêu cầu xem xét giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Đối với Đỗ Quang V khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi Đỗ Quang V yêu cầu cấp ông D cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Bà xác định vợ chồng không có tài sản chung. Về nợ chung: Bà khai vợ chồng không có nợ chung.

Tại bản tự khai và tại phiên hòa giải Ông Đỗ Đức D trình bày:

Về hôn nhân: Ông xác định về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn, nơi kết hôn đúng như bà M trình bày. Ông và bà M tự nguyện kết hôn, không bị ai ép buộc. Trong thời gian chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng mâu thuẩn không lớn, ông vẫn còn thương vợ nên xin hàn gắn để vợ chồng về chung sống với nhau cùng nuôi con ăn học. Nên nay bà M yêu cầu ly hôn ông không đồng ý ly hôn. Ông muốn vợ chồng chỉ ly thân để hai bên suy nghĩ lại.

Về con chung: Ông xác định có 02 con chung tên Đỗ Hồng L, sinh năm 2000, hiện đã trưởng thành không đặt ra vấn đề cấp dưỡng và nuôi dưỡng. Đối với Đỗ Quang V, sinh ngày 08/02/2008, sau khi ly hôn ông đồng ý giao con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông tự nguyện cấp dưỡng cho V 1.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung Đỗ Quang V đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Ông xác định vợ chồng không có tài sản chung. Về nợ chung: Ông khai vợ chồng không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M và ông Đỗ Đức D được xác định là tranh chấp về ly hôn, bị đơn ông Đỗ Đức D có nơi cư trú tại khóm 8, phường 5, M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Ông Đỗ Đức D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập xét xử lần thứ hai theo quy định nhưng ông D vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà M và ông D có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên mối quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận và bảo vệ. Lời trình bày của bà M tại phiên tòa nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, ông D không quan tâm chăm sóc gia đình, nên vợ chồng thường xuyên cự cãi.

Nên hiện nay bà yêu cầu xin ly hôn với ông D. Ông D xác định vẫn còn thương vợ và không đồng ý ly hôn và muốn hàn gắn để vợ chồng cùng chăm sóc nuôi dạy con chung.

Xét thấy, mặc dù ông D có ý kiến không đồng ý ly hôn nhưng tại phiên hòa giải ông D cũng thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn là do lỗi của ông, và ông cũng không đưa ra được biện pháp để vợ chồng chung sống lại với nhau đồng thời bà M cũng xác định nếu Tòa án có bác yêu cầu của bà, bà cũng không thể tiếp tục sống chung với ông D. Bản thân bà M cũng đã cho ông D cơ hội và thời gian thay đổi nên trước đây bà M đã rút đơn yêu cầu khởi kiện vào tháng 5/2020 nhưng khi về chung sống giữa bà M và ông D vẫn không hạnh phúc mà mâu thuẫn càng trầm trọng hơn. Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay ông D vắng mặt không có lý do điều đó thể hiện ông D cũng không có ý thức hàn gắn.

Cho nên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn trong hôn nhân của bà M và ông D thật sự đã trầm trọng, không thể kéo dài nếu tiếp tục sống chung cũng không có hạnh phúc. Cho nên, yêu cầu khởi kiện của bà M về việc xin ly hôn với ông D là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà M và ông D có 02 con chung tên Đỗ Hồng L, sinh năm 2000, hiện Đỗ Hồng L đã trưởng thành nên bà M, ông D không đặt ra vấn đề cấp dưỡng, nuôi dưỡng. Cho nên, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với Đỗ Quang V, sinh ngày 08/02/2008, sau khi ly hôn bà M và ông D thống nhất giao con chung Đỗ Quang V cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, sự thỏa thuận giữa bà M và ông D cũng phù hợp với ý kiến nguyện vọng của cháu V nên yêu cầu của bà M về việc nuôi cháu V được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M và ông D thống nhất thỏa thuận ông D cấp dưỡng nuôi con chung Đỗ Quang V mỗi tháng 1.000.000 đồng, cho đến khi Quang V đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con thỏa thuận thống nhất tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, ông D không trực tiếp nuôi con nhưng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của ông D và phù hợp với pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Ông D vẫn có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung: Bà M, ông D khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà M, ông D khai không nợ ai, và không ai nợ lại ông bà nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà M phải chịu theo quy định; ông D phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc xin ly hôn với ông Đỗ Đức D Về con chung: Giao Đỗ Quang V, sinh ngày 08/02/2008, cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông D cấp dưỡng nuôi con chung Đỗ Quang V mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi Đỗ Quang V đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với Đỗ Hồng L, sinh năm 2000 đã trưởng thành không đặt ra xem xét.

Ông Đỗ Đức D có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu thi hành án, ông Đỗ Đức D không tự nguyện thi hành xong khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì phải trả thêm khoản lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Về tài sản chung; nợ chung: Bà M, ông D khai không có, không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị M phải chịu. Bà M đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0002122 ngày 08/7/2020, được đối trừ, bà M đã nộp đủ. Án phí dân sự về cấp dưỡng 300.000 đồng ông Đỗ Đức D phải nộp (chưa nộp).

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

214
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 129/2020/HNGĐ-ST ngày 20/08/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:129/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về