Bản án 128/2019/HNGĐ-ST ngày 21/10/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 128/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/10/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Vào ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 289/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kim T, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.

- Bị đơn: Anh Lưu Công N sinh năm 1977.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.

Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh N vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 30/5/2019, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị T trình bày: Chị với anh N chung sống vợ chồng vào năm 2008, không có đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống chị với anh N sinh sống tại thành phố H. Đến năm 2011 chị với anh N về xã T, huyện C để sinh sống. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh N không lo cho gia đình, thường xuyên cờ bạc, uống rượu, ghen tuông, hay kiếm chuyện hành hung chị làm cho cuộc sống giữa chị với anh N không còn hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên chị khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh N.

Về con chung: Có một người con tên Hồ Thanh D, sinh ngày 04/9/2016. Chị yêu cầu được trược tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng cháu Duy, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có ý kiến và không có mặt để dự phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt để dự phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T, anh N theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T, anh N chung sống vợ chồng vào năm 2008, nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình; điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp, nên pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T với anh N.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống chị T, anh N có một người con chung tên Hồ Thanh D, sinh ngày 04/9/2016, hiện do chị T nuôi dưỡng.

Xét yêu cầu nuôi con của chị T thấy rằng: Cháu D do chị T nuôi dưỡng đã ổn định. Mặt khác theo xác nhận của Công an ấp Tân Thái ngày 20/8/2019 thì chị T có đủ điều kiện để nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu D và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần phải giao cháu D cho chị T nuôi dưỡng.

[4] Xét, chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi cháu D nên Hội đồng xét xử không giải quyết nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác định không có nợ chung và tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh N không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 9, 81,82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hồ Thị Kim T với anh Lưu Công N.

2. Về con chung: Giao cháu Hồ Thanh D, sinh ngày 04/9/2016 cho chị Hồ Thị Kim T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi cháu D, do chị T không yêu cầu.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hồ Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị Chiếm đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 16780 ngày 12/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị T đã thi hành xong án phí.

4. Chị T, anh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


21
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về