Bản án 128/2017/HSST ngày 01/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 128/2017/HSST NGÀY 01/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 01 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 121/2017/HSST ng11 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Hoàng Mạnh T, sinh ngày 27/11/1977 tại huyện C, Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Hoàng Văn G (Tên gọi khác: Hoàng G) và bà Vi Thị H; hiện nay đều trú tại thôn N, xã Q, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2017 cho đến nay; có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Hoàng Mạnh T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/6/2017, tại khu vực đầu ngõ 1 đường N, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn bắt quả tang Hoàng Mạnh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm 01 (một) gói giấy bên trong có chứa chất bột mầu trắng.Tại bản kết luận giám định số 223/KL-PC54 ngày 07/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroine, có trọng lượng 0,149 gam (đã trừ bì).

Cáo trạng số 124/KSĐT ngày 08/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Mạnh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Mạnh T thừa nhận: Bản thân bị cáo nghiện ma túy từ năm 2008, đã được đi cai nghiện tập trung 02 năm nhưng đến đầu năm 2017 bị cáo lại tái nghiện. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 05/6/2017, bị cáo đi xe khách từ nhà lên thành phố L để đến Bệnh viện L để làm thủ tục uống thuốc Methadon. Sau khi làm xong thủ tục, bị cáo  đi xe ôm từ Bệnh viện L đến quán nước ở cổng chợ Đ gặp một người tên là H. H hỏi bị cáo có dùng ma túy không, bị cáo nói bị cáo chỉ có 50.000 đồng thôi. H đồng ý nhận tiền và bảo bị cáo ngồi đợi. Khoảng 15 phút sau, H quay lại và bảo bị cáo đi cùng H vào ngõ 1, đường N, phường V, thành phố L để lấy ma túy. Tại đây, H đưa cho bị cáo 01 (một) gói giấy nhỏ chứa chất ma túy Heroine. Bị cáo cầm gói ma túy vừa mua trong lòng bàn tay trái đi ra đến đầu ngõ thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về cùng với gia đình.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên nội dung quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249, của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017Nghị quyết 41/2017/QH14, xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản. Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 41 của Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật sau giám định.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Hoàng Mạnh T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà.

Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, qua kết quả giám định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Mạnh T phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý " theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo Hoàng Mạnh T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ma túy không chỉ là chất gây nghiện, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người, tiêu tốn về kinh tế mà còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố là ông Hoàng G và mẹ là bà Vi Thị H được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 quy định: Các điều khoản của Bộ luật hình sự 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn… và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng những quy định có lợi khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định là cần thiết, có như vậy mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập và tài sản nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo không có tính khả thi. Vì vậy, Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám địnhcần được tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa  hôm nay là có căn cứ, phù hợp với pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

Đối với người phụ nữ tên H, do bị cáo không biết danh tính và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy địnhcủa pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:  Bị cáo Hoàng Mạnh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999;

Khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Nghị quyết số 41/2017/QH14;

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh T 18 tháng (Mười tám tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 05/6/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định. (Vật chứng nói trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, có đặc điểm như được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2017 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Lạng Sơn).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hoàng Mạnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, sung công quỹ Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự .


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về