Bản án 126/2021/HS-PT ngày 08/03/2021 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 126/2021/HS-PT NGÀY 08/03/2021 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 566/2020/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo Phạm Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 42/2020/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2021/QĐPT-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Đ, tên gọi khác: không, sinh năm 1973 tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn 3A3, xã Đăk Mol, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12 ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Phạm Văn Kh và bà Vũ Thị X; Có vợ là bà Trần Thị M và 03 con; Bị bắt theo lệnh truy nã từ ngày 18/10/2019 (có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Ngọc H, là Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV AMI (địa chỉ: 50 Nguyễn Tri Phương (Tầng 2), phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Ông Trịnh Xuân Q, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: Thôn 1 E29, xã Đăk Mol, huyện Đăk Song, tỉnh Đăk Nông (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa năm 2015, Phạm Văn Đ từ thị trấn EaSup, tỉnh Đắk Lắk đến xã Đắk Mol, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tìm mua đất rẫy để canh tác thì biết được vợ chồng anh Trịnh Xuân Q và chị Nguyễn Thị Đ trú tại thôn 1E29, xã Đắk Mol có 03 lô đất rẫy tổng diện tích 74.217,3 m2 tọa lạc tại thôn 1E29, xã Đắk Mol, huyện Đắk Song đã được Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các số U194263 cấp ngày 16/8/2002, AA353379 cấp ngày 10/11/2004, BL728558 cấp ngày 20/3/2013. Do cần tiền sử dụng nên ngày 08/5/2013, anh Q thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất U194263 vay ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Đắk Song số tiền 270.000.000 đồng, thời hạn vay 03 năm. Đến ngày 01/7/2013, anh Q thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BL728558 vay ngân hàng này tiếp số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay 03 năm. Tháng 8/2015 là đến hạn trả nợ cho Ngân hàng 02 khoản vay trên tổng nợ cả gốc và lãi anh Q phải thanh toán là 481.000.000 đồng. Do không có tiền trả nợ cho Ngân hàng nên vợ chồng anh Q, chị Đ bán 03 diện tích đất nói trên.

Anh Q, chị Đ và Phạm Văn Đ cùng nhau thỏa thuận giá chuyển nhượng 03 diện tích đất rẫy là 1.000.000.000 đồng, Phạm Văn Đ sẽ đưa 481.000.000 đồng đi cùng với vợ chồng anh Q, chị Đ đến Ngân hàng nông nghiệp chi nhánh huyện Đắk Song thanh toán 02 khoản nợ với tổng số tiền là 481.000.000 đồng để lấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất U194263 và BL728558 về sang tên cho Phạm Văn Đ. Sau khi sang được tên, Đ sẽ thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vay ngân hàng rồi thanh toán cho anh Q, chị Đ số tiền còn lại là 519.000.000 đồng. Hai bên thống nhất xong, do Phạm Văn Đ không có tiền nên Đ đến hỏi vay nóng (trả lãi ngày) các chị Đặng Thị L (sinh năm 1973, trú tại thôn thuận Hòa, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) và Nguyễn Thị Lệ H (sinh năm 1972, trú tại thôn Đ Hòa, xã Thuận An, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông) 500.000.000 đồng để mua đất của anh Q, chị Đ thì chị Huyền và chị Loan đồng ý. Đến ngày 07/8/2015, Phạm Văn Đ, Trần Thị M cùng các chị Đặng Thị L, Nguyễn Thị Lệ H và vợ chồng anh Q, chị Đ đến Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông huyện Đắk Song, thấy khoản tất toán của anh Q và chị Đ là 481.000.000 đồng nên chị Huyền đưa cho Đ vay 481.000.000 đồng, Đ đưa cho anh Q 481.000.000 đồng, anh Q tiến hành tất toán 02 khoản vay, trong đó tiền gốc là 370.000.000 đồng, lãi 111.000.000 đồng và lấy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các số U194263 và BL728558 về. Vào ngày 08/08/2015, anh Q, chị Đ viết giấy sang nhượng đất rẫy cho Phạm Văn Đ.

Do 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các số U194263, AA353379, BL728558 Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song cấp nhầm vị trí nên ngày 15/9/2015, anh Q làm đơn xin cấp lại.

Ngày 19/9/2015, Phạm Văn Đ, Trần Thị M chuyển hộ khẩu gia đình đến đăng ký thường trú tại thôn 3A3, xã Đắk Mol, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Đến ngày 01/10/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song ban hành Quyết định số 1523 thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các số U194263, AA353379, BL728558 đồng thời cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có các số phát hành là CA 870952, CA 870953, CA 870954 cho anh Trịnh Xuân Q và chị Nguyễn Thị Đ.

Đến ngày 13/10/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đắk Song ban hành Quyết định số 1587 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các số CA 870967, CA 870969, CA 870970 cho Phạm Văn Đ và Trần Thị Mong.

Ngày 31/12/2015, Phạm Văn Đ và Trần Thị M thế chấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng này vay ngân hàng Tiên Phong chi nhánh tỉnh Đắk Lăk 1.000.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền, Đ trả nợ cho chị H và chị L 500.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc là 481.000.000 đồng, tiền lãi là 19.000.000 đồng) và trả các khoản nợ khác. Đ cùng anh Tăng Triệu V (sinh năm 1957, trú tại thôn 3A3, xã Đắk Mol, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông) đến nhà anh Q, chị Đ đàm phán trả trước 200.000.000 đồng, số tiền còn lại Đ hứa sau khi bán đất ở Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk sẽ thanh toán nhưng anh Q, chị Đ không nhất trí, mà yêu cầu Phạm Văn Đ phải thanh toán hết số tiền 519.000.000 đồng. Sau đó, Phạm Văn Đ không trả cho anh Q, chị Đ.

Ngày 17/01/2016, Phạm Văn Đ đưa gia đình bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 22/11/2017, anh Q và chị Đ đồng ký đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Đắk Song yêu cầu Phạm Văn Đ thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất rẫy số tiền còn lại chưa thực hiện là 519.000.000 đồng phải trả cho anh Q, chị Đ.

Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án nhân dân huyện Đắk Song không xác định được Phạm Văn Đ đang ở đâu. Tòa án làm việc với anh Q, chị Đ 03 lần, anh Q, chị Đ đều yêu cầu Đ trả số tiền mua rẫy còn thiếu là 519.000.000 đồng. Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu hình sự nên ngày 28/6/2018, Tòa án nhân dân huyện Đắk Song chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình giải quyết tố giác về tội phạm, anh Trịnh Xuân Q và chị Nguyễn Thị Đ tố cáo bị Phạm Văn Đ chiếm đoạt số tiền 519.000.000 đồng. Kết quả kiểm tra, xác minh xác định: Phạm Văn Đ đã có hành vi chiếm đoạt 519.000.000 đồng tiền mua rẫy của anh Trịnh Xuân Q và chị Nguyễn Thị Đ nhưng không trả mà Đ bỏ trốn để chiếm đoạt nên ngày 30/10/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Nông đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Phạm Văn Đ về tội ‘Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 BLHS. Đến ngày 18/10/2019, Phạm Văn Đ bị bắt theo lệnh truy nã.

Tại bản kết luận giám định số 19-GĐTL/PC54 ngày 06/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Phạm Văn Đ dưới mục người mua ký trên giấy sang nhượng rẫy ghi ngày 24/6/2015 âm lịch so với chữ ký, chữ viết mang tên Phạm Văn Đ trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 02/10/2015 là do cùng một người ký, viết ra.

Tại bản kết luận giám định số 213/GĐTL-PC09, ngày 16/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Dấu vân tay in trên giấy chứng minh nhân dân số 233318572 mang tên Phạm Đức Tr và dấu vân tay in trên giấy chứng minh nhân dân số 245370240 của Phạm Văn Đ là dấu vân tay của cùng một người in ra.

Đối với Trần Thị M (vợ của Phạm Văn Đ): chị M không biết và không tham gia việc thỏa thuận mua bán đất với anh Trịnh Xuân Q và chị Nguyễn Thị Đ, không ký vào giấy sang nhượng rẫy, việc thanh toán tiền cho anh Q, chị Đ là do Phạm Văn Đ thực hiện không báo cho chị M biết. Do đó, Trần Thị M không đồng phạm với Phạm Văn Đ.

Về phần thu giữ tài liệu vật chứng: Căn cứ Điều 104, Điều 106 BLTTHS trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ tài liệu: 01 tờ giấy sang nhượng rẫy đề ngày 24/6/2015 âm lịch, nhằm ngày 08/8/2018; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 02/10/2015, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Đ Trung và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn Đ có liên quan đến vụ án, cần phải đưa vào hồ sơ để giải quyết vụ án.

Đối với số tiền 105.309.582 đồng (một trăm lẻ năm triệu ba trăm lẻ chín ngàn năm trăm tám mươi hai đồng) còn lại sau khi ngân hàng HĐ Bank phòng giao dịch Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử lý nợ của Phạm Văn Đ đã chuyển vào số tài khoản 3949.0.1099321 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông để đảm bảo thi hành án.

Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Trịnh Xuân Q có đơn yêu cầu Phạm Văn Đ trả lại số tiền đã chiếm đoạt.

Cáo trạng số: 32/CTr-VKS-P1 ngày 28-5-2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại bản án sơ thẩm số 42/2020/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông đã QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Xử phạt: Phạm Văn Đ 12 (mười hai) năm tù, tính từ ngày bị bắt theo lệnh truy nã là ngày 18/10/2019.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Buộc Phạm Văn Đ trả cho anh Trịnh Xuân Q và chị Nguyễn Thị Đ số tiền 499.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,

[3.1] Đối với 01 tờ giấy sang nhượng rẫy đề ngày 24/6/2015 âm lịch, nhằm ngày 08/8/2018; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 02/10/2015, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên phạm Đ Trung và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn Đ đã đóng dấu bút lục kèm theo, có liên quan đến vụ án nên cần lưu trong hồ sơ phục vụ việc giải quyết vụ án.

[3.2] Tiếp tục tạm giữ số tiền 105.309.582 (một trăm lẻ năm triệu ba trăm lẻ chín ngàn năm trăm tám mươi hai) đồng Ngân hàng HĐ Bank phòng giao dịch Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum xử lý nợ của Phạm Văn Đ chuyển vào số tài khoản 3949.0.1099321 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông để đảm bảo thi hành án.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 23.960.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/9/2020, bị cáo Phạm Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Phạm Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo ban đầu.

Bị cáo cho rằng, ngoài số tiền thanh toán cho Ngân hàng để giải chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị cáo còn trực tiếp giao cho ông Q, bà Đ 50.000.000 đồng, thông qua ông Tăng Triệu V 120.000.000 đồng theo giấy đặt cọc.

Ông Q, bà Đ phủ nhận số tiền 120.000.000 đồng; đối với số tiền 50.000.000 đồng, ông bà không phủ nhận, nhưng do thời gian đã lâu, ông bà không nhớ có nhận hay không.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến như sau:

Về tội danh: Sau khi nhận được tài sản là quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng, bị cáo đã bỏ trốn, thay đổi họ tên và chiếm đoạt của ông Q, bà Đ 519.000.000 đồng. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về khung hình phạt và hình phạt:

Đối với số tiền 50.000.000 đồng và 120.000.000 đồng mà bị cáo khai đã giao cho ông Q, bà Đ trong quá trình mua bán và giao cho ông Tăng Triệu V theo giấy đặt cọc là không có căn cứ để chấp nhận, vì người bị hại không thừa nhận. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo từ 9 đến 10 năm tù.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Đ trình bày như sau: Về tội danh: Luật sư không tranh luận.

Về khung hình phạt và hình phạt: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của ông Tăng Triệu V thì có cơ sở để xác định bị cáo đã trực tiếp giao cho ông Q, bà Đ số tiền 50.000.000 đồng và thông qua ông Vinh 120.000.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ thuộc khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử bị cáo ở mức nhẹ nhất của khung hình phạt.

Ông Trịnh Xuân Q, bà Nguyễn Thị Đ giữ nguyên ý kiến đã trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn Đ tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của nhân chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đồng thời phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ pháp lý để kết luận như sau:

Khoảng giữa năm 2015, thông qua việc ký hợp đồng mua bán 74.217,3 m2 đất tại thôn 1E29, xã Đắk Mol, huyện Đắk Song với ông Trịnh Xuân Q, bà Nguyễn Thị Đ và sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên, Phạm Văn Đ đã thế chấp cho Ngân hàng lấy tiền, rồi thay đổi họ tên, bỏ trốn khỏi địa phương. Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, xét thấy tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, ông Q và bà Đ chỉ phản đối số tiền 120.000.000 đồng mà bị cáo khai trả thông qua ông Tăng Triệu V; riêng số tiền 50.000.000 đồng thì không phủ nhận mà cho rằng thời gian đã lâu, không nhớ. Như vậy, có căn cứ để xác định bị cáo đã chiếm đoạt của người bị hại 469.000.000 đồng và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 là chưa chính xác.

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ, phúc thẩm khai báo thành khẩn, ăn năn hối lỗi; đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại. Do đó, cần áp dụng các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đề nghị của ông Luật sư bào chữa cho bị cáo, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Cần sửa lại cho phù hợp, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Q, bà Đ 469.000.000 đồng.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp trên số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho người bị hại.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đ được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2020/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 3 Điều 175, các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Xử phạt: Phạm Văn Đ 09 (chín) năm tù, tính từ ngày bị bắt theo lệnh truy nã là ngày 18/10/2019.

Tiếp tục giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Buộc Phạm Văn Đ bồi thường cho ông Trịnh Xuân Q và bà Nguyễn Thị Đ số tiền 469.000.000 (bốn trăm sáu mươi chín triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp 22.760.000 (hai mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi ngàn) đồng.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

295
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 126/2021/HS-PT ngày 08/03/2021 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:126/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/03/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về