Bản án 126/2017/HSST ngày 10/11/2017 về tội môi giới mại dâm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 126/2017/HSST NGÀY 10/11/2017 VỀ TỘI MÔI GIỚI MẠI DÂM

Ngày 10 tháng 11 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên,thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số93/2017/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Đinh Thị H sinh năm 1992 tại Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Đinh Văn V sinh năm 1967 và bà Trần Thị Kim Ng sinh năm 1968; Có 01 con sinh ngày 03/12/2012. Tiền án, tiền sự: Không; Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn H và ông Lã Viết N: Luật sư củaCông ty Luật trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Nhân Ái thuộc Đoàn luật sư HảiPhòng. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Đinh Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thànhphố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/10/2015, Đinh Khắc Q, Phạm Văn Th, Vũ Văn B, sinh năm 1982 cùng ở xã L, huyện T, Đinh Chính Th, sinh năm 1970 và Đinh Quang S, sinh năm 1980 cùng ở xã Ph, huyện T ngồi uống rượu tại nhà Th. Sau khi uống rượu xong cả nhóm rủ nhau đi mua dâm, Th đã gọi điện thoại cho Đinh Thị H là quản lý nhà nghỉ M ở xã P, huyện T đặt vấn đề thuê phòng nghỉ và tìm gái để mua dâm thì H trả lời “để gọi điện hỏi có gái bán dâm không đã”. Do biết Đinh Thị Lan H có thể điều được gái bán dâm nên H gọi điện cho Đinh Thị Lan H bảo có khách muốn mua dâm nếu có thì đưa 03 gái bán dâm đến nhà nghỉ M, H đồng ý. H gọi điện cho Đinh Thị H bảo H bố trí 03 gái bán dâm đến nhà nghỉ M để bán dâm cho khách và thỏa thuận giá 1.200.000 đồng một gái bán dâm, H đồng ý. H gọi điện cho Bùi Thị Lan A, sinh ngày 05/7/1998 ở thôn S, xã Ph, huyện T, Đỗ Thị H, sinh ngày 04/12/1998 ở xã T, huyện T và một người tên Kim Anh (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). H nói với Bùi Thị Lan A, Đỗ Thị H, Kim A đi bán dâm ở nhà nghỉ M với giá 1.000.000 đồng/một lần. Lan A, H và Kim A đồng ý. H lấy xe mô tô biển kiểm soát 15G1-44799 đến nhà chở Lan A, H, Kim A tự đi xe đến nhà nghỉ Minh N ở xã Phả Lễ do Đinh Thị H quản lý.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, Th, B, Th, Q, S đến nhà nghỉ M. Do không có nhu cầu mua dâm nên Th bỏ về còn B, Q, Th, S ngồi đợi tại nhà nghỉ. Tại đây Đinh Thị Lan H thỏa thuận với nhóm của B, Th, Q mua dâm với giá 1.500.000 đồng/lượt/người, nhóm của B đồng ý. Th đưa cho H số tiền 3.000.000 đồng để Th và B mua dâm, Q đưa cho H 1.500.000 đồng, còn S không mua dâm mà ngồi đợi ở quầy lễ tân nhà nghỉ. Vũ Văn B cùng Kim A vào phòng 401; Phạm Văn Th cùng Đỗ Thị H vào phòng 404; Đinh Khắc Q cùng Bùi Thị Lan A vào phòng 402 nhà nghỉ của H thực hiện hành vi mua bán dâm. Sau khi cả nhóm quan hệ tình dục xong Vũ Văn B trả Đinh Thị H số tiền 300.000 đồng tiền thuê 03 phòng của nhà nghỉ. Đinh Thị Lan H giữ lại 900.000 đồng và đưa cho Đinh Thị H số tiền 3.600.000 đồng, Đinh Thị H đã trả cho Lan A số tiền 1.200.000 đồng; trả cho Kim A và H mỗi người 1.000.000 đồng, H thu lợi 400.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Đinh Thị H, Đinh Thị Lan H, Đinh Thị H, Đinh Khắc Qu, Phạm Văn Th khai nhận hành vi của mình như trên. Đinh Thị H khai đã điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định trưng cầu giám định tại Viện Pháp y Tâm thần Trung ương để xác định tình trạng tâm thần của bị can Đinh Thị H. Đến ngày 30/11/2016 chưa có kết quả giám định nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can Đinh Thị H. Ngày 10/4/2017, Viện Pháp y Tâm thần Trung ương kết luận: “Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị can Đinh Thị Hậu bị bệnh động kinh toàn thể cơn lớn. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số G40.6. Bệnh động kinh của Đinh Thị H thuộc nhóm động kinh nguyên phát (Động kinh không tìm được nguyên nhân)”.

Bản Cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 13 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố bị cáo Đinh Thị H về tội “ Môi giới mại dâm” theo Điểm a, e Khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Thị H khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đinh Thị H về tội “ Môi giới mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 255; Điểm n, p Khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 20, Điều 53, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội có hiệu lực ngày 05/7/2016; Khoản 3 Điều 7, Điểm a, đ Khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đinh Thị H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời thử thách 60 tháng. Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Lập Lễ quản lý giáo dục. Tại Khoản 3 Điều 60 và tại Khoản 5 Điều 255 BLHS quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản, thu nhập, hiện đang nuôi con nhỏ, và bị bệnh động kinh nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Tại phiên tòa, hai luật sư bào chữa nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố đối với bị cáo Đinh Thị H. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ như sau: bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 400.000 đồng cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên để khắc phục hậu quả do mình gây ra. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi “ Môi giới mại dâm” bị cáo là người mắc bệnh đồng kinh toàn thể cơn lớn. Do bị bệnh nên bị cáo cũng bị ảnh hưởng phần nào đến khả năng nhận thức và thực hiện hành vi phạm tội; Bố đẻ của bị cáo có thời gian phục vụ quân ngũ, có bằng khen, huân huy trương. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình; Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b,p, n khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội và Công văn 276/TANDTC-CP ngày 13 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo từ 28 đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Đinh Thị H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Đinh Thị H thực hiện hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt Đỗ Thị H và Bùi Thị Lan A và một đối tượng tên Kim A là người chưa thành niên (đủ 16 tuổi nhưng dưới 18 tuổi) bán dâm cho Đinh Khắc Q, Phạm Văn Th vào ngày 01 tháng 10 năm 2015. Sau khi trả tiền bán dâm cho Đỗ Thị H, Bùi Thị Lan A, Kim A, bị cáo được hưởng số tiền 400.000 đồng. Hành vi của bị cáo vì vậy đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm” vi phạm Điểm a, e Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Trong vụ án “ Chứa mại dâm” và “Môi giới mại dâm”, “ Mua dâm người chưa thành niên” vào trưa ngày 01 tháng 10 năm 2015 tại nhà nghỉ M thuộc xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng, ngày 17 tháng 4 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã xét xử đối với Đinh Thị H, Đinh Thị Lan H, Phạm Văn Th, Vũ Văn B và Đinh Khắc Q.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng mà còn gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp đủ tiền thu lợi bất chính; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức; có bố đẻ là người tham gia kháng chiến, được hưởng huân chương chiến công hạng 3 là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, n Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của BLHS. Trong vụ án đồng phạm, bị cáo có vai trò thấp hơn các bị cáo khác. Vụ án xảy ra từ ngày 01/10/2015 cho đến ngày xét xử bị cáo không có hành vi phạm tội nào khác và đang phải uống thuốc thần kinh theo chỉ định của bác sỹ. Bị cáo là phụ nữ đơn thân, phải nuôi con nhỏ và em trai đang tuổi đi học, bị cáo có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi phạm tội của bị cáo rất nghiệm trọng, cần phải có mức án nghiêm khắc đối vói bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung. Song bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để giáo dục quản lý.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 của BLHS quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đinh Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm”.

Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 255, Điểm p, n Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53, Điều 60 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Thị H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đinh Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Đinh Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


106
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 126/2017/HSST ngày 10/11/2017 về tội môi giới mại dâm

Số hiệu:126/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về