Bản án 125/2020/HNGĐ-PT ngày 07/08/2020 về thay đổi nuôi con chung sau ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 125/2020/HNGĐ-PT NGÀY 07/08/2020 VỀ THAY ĐỔI NUÔI CON CHUNG SAU LY HÔN

 Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2020/TLPT- HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020 về “Thay đổi nuôi con chung sau ly hôn”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2020/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Toà án nhân dân quận H bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 154/2020/QĐPT- HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2020 giữa:

Nguyên đơn: Anh Đinh Hoàng L; sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 35 phố L, phường S, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở: Số nhà 116 ngõ 158 N, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, có mặt.

Người bảo vệ quyền lợi cho anh L: Luật sư Nguyễn Thị Hải Yến, Công ty luật TNHH Nguyễn Viết và Cộng sự, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, có mặt.

Bị đơn kháng cáo: Chị Nguyễn Minh N; sinh năm 1981; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: P214 nhà A8 tập thể Ngân hàng, phường C, quận H, thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua những lời khai và tại phiên tòa anh Đinh Hoàng L trình bày: Anh và chị Nguyễn Minh N kết hôn vào tháng 12/2010. Sau một thời gian chung sống đã nảy sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn nên anh chị đã xin ly hôn tại Bản án số 182/2018/HNGGĐ-PT ngày 31/10/2018 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Về con chung: Anh, chị có 01 con chung là Đinh Bảo K, sinh ngày 08/7/2016; sau ly hôn chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành và tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi của anh L cho đến khi chị N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác. Anh L có quyền đi lại chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

Từ khi ly hôn đến nay, con K vẫn đang ở cùng chị N; trong quá trình chị N nuôi dưỡng con chung, đã nhiều lần ngăn cản không cho anh được thăm nom, chăm sóc; không cho anh được trông đón con vào những dịp cuối tuần hoặc bên gia đình nhà anh có việc cần xuất hiện của con anh. Khi anh muốn gặp con, thì đến lớp học thăm, biết việc chị N đã gây khó dễ, chửi bới anh ngay tại trường học dẫn đến anh chị xô xát.

Ngoài ra, chị N không quan tâm chăm sóc con như để tóc và móng tay của con dài, con ở bẩn bị lở loét chân tay, có thời gian có biểu hiện của bệnh chân tay miệng. Cách nuôi dạy con của chị N cũng như tư duy của chị N có nhiều sai lệch như: Chị N đã nhiều lần đưa con chung tới cơ quan anh đôi co, to tiếng anh, với lãnh đạo cơ quan, gây ảnh hưởng rất lớn đến công việc cũng như uy tín của anh. Đã ly hôn, nhưng chị N vẫn không ngừng tới nhà mẹ đẻ của anh là bà Quản Thị H ở phường N để chửi bới, xúc phạm mẹ anh, gây sức ép bắt anh phải đổi tên họ cho con, không cho cháu mang họ bố. Gửi nhiều đơn tố giác tới Công an phường N, Công an quận B tố giác cả gia đình anh bằng những sự việc vô căn cứ. Hành vi của chị N gây mất trật tự công cộng, nhiều lần Công an phường phải lập biên bản xử lý. Mỗi lần như vậy, bất kể ngày, đêm, mưa, nắng chị N đều mang theo con chung và để con còn bé phải chứng kiến những sự việc không hay đó. Anh L nhận thấy hành động của chị N là vô văn hóa, ảnh hưởng đến nhân cách, suy nghĩ và sự phát triển bình thường của con chung.

Do vậy, anh xin được quyền thay đổi trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh khẳng định anh có đủ điều kiện về vật chất cũng như tinh thần để nuôi dạy con chung thật tốt, để con chung phát triển đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần. Về nhà ở, hiện anh đang sống cùng mẹ đẻ tại số 116/158 phố N, quận B nên nơi ở ổn định, thu nhập của anh trên 10 triệu đồng/tháng đủ để nuôi dưỡng tốt con chung.

Được nuôi con chung, anh hứa sẽ tạo điều kiện cho chị N được đón con hàng tuần về chăm sóc kể từ chiều thứ 6, đến chiều chủ nhật hoặc sáng thứ 2 sẽ giao lại cho anh hoặc những ngày gia đình chị N có việc cần sự xuất hiện của con, anh sẽ tạo điều kiện hết mức cho chị N. Anh nuôi con, không yêu cầu chị N phải đóng phí tổn nuôi con chung.

* Theo các lời khai và tại phiên tòa bị đơn chị Nguyễn Minh N trình bày:

Anh chị đã ly hôn. Theo quyết định của Tòa án, sau ly hôn chị là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Đinh Bảo K, sinh ngày 08/7/2016 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác.

Chị N khẳng định chị vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng con rất tốt; con được học tại trường Mần Non- Chim Non thuộc quận H là trường đạt chuẩn Quốc Gia, khỏe mạnh bình thường. Hiện nay chị đang làm tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Hà Nội, thu nhập giao động từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000đồng mỗi tháng. Chị có nhà riêng để cho con có chỗ ở ổn định để học hành. Trước yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của anh L, chị có thể đồng ý nếu như anh L nuôi tốt con chung và tạo điều kiện cho chị được thăm nom, chăm sóc con chung mọi lúc, mọi nơi. Chị biết trong thời gian vừa qua chị cũng có một số hành vi sai trái, cần sự thay đổi. Tuy nhiên, đó là sự bức xúc của chị khi anh L và gia đình nhà anh quá thờ ơ với việc nuôi dưỡng con chung của chị.

Chị N cho rằng vợ chồng ly hôn là do anh L bị mẹ đẻ là bà Quản Thị H xúi bảy. Khi chị nuôi con đã vất vả, anh L và gia đình anh lại gây khó khăn cho chị trong cuộc sống và nuôi con bằng việc nộp đơn tố giác chị lên cơ quan nơi chị làm việc, làm chị đã phải viết bản giải trình để gửi lãnh đạo cơ quan. Chị rất khó chịu khi anh L không chấp hành nghiêm bản án đã có hiệu lực pháp luật mà còn gửi tiền cấp dưỡng nuôi con vào tài khoản chị. Khi mẹ chị mất anh L và gia đình anh ta không đến; khi anh L đến trường thăm con, thì anh đã cầm điện thoại để quay phim, chụp ảnh từ lúc chị đến đón con đến khi chị đưa con ra khỏi lớp…vv..

Trước yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh L hiện tại chị chưa biết mình phải làm như thế nào, chị đề nghị Tòa phán xét. Tuy nhiên, chị vẫn muốn được tiếp tục nuôi con. Nếu anh L mà cho chị được đến thăm thường xuyên, vào tận nơi kiểm tra sự ăn ở của con và anh L thì chị sẽ đồng ý để anh L nuôi con chung. Nếu sau ngày hôm nay Tòa vẫn giữ nguyên án sơ thẩm, giao con chung cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, thì chị xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh L.

Mong muốn lớn nhất của chị đến nay là anh L suy nghĩ lại, để vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con chung.

Tại Bản án số 10/2020/HNGĐ-ST ngày 03/6/2020 Tòa án nhân dân quận H quyết định:

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Hoàng L về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

2. Giao con chung là Đinh Bảo K, sinh ngày 08/7/2016 cho anh Đinh Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị N cho đến khi anh L có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Bị đơn chị Nguyễn Minh N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn anh Đinh Hoàng L được nhận lại 300.000 đồng án phí anh đã nộp theo Biên lai số 0003395 ngày 29/11/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận H.

Ngoài ra Tòa án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/6/2020 chị Nguyễn Minh N đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm về việc thay đổi nuôi con chung sau ly hôn với yêu cầu của anh L.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Cả 02 bên đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về vấn đề nhường quyền nuôi con cho bên nào. Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn và luật sư bảo vệ cho mình giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày các ý kiến, quan điểm để bảo vệ quyền lợi của mình.

Mặc dù, tại phiên tòa bị đơn cũng có lúc đồng ý để nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng không dứt khoát. 02 bên đã tự viết bản thỏa thuận cam kết về việc cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tạo điều kiện cho bên còn lại được thăm nom, chăm sóc con chung nếu mình được Tòa án giao cho là người trực tiếp nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng, đảm bảo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay các đương sự đều trình bày các ý kiến để bảo vệ quyền lợi của mình. Sau khi phân tích nội dung vụ án, vấn đề cần giải quyết, đại diện Viện Kiểm sát đã đề nghị với Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị giao con chung cho anh Đinh Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với bị đơn. Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo bản án gửi ngày 16/6/2020 của chị Nguyễn Minh N nằm trong hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với nội dung vụ án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, xét xử phúc thẩm.

[2] Về Nội dung: Vợ chồng anh Đinh Hoàng L và chị Nguyễn Minh N kết hôn vào tháng 12/2010. Tại bản án ly hôn phúc thẩm số 182/2018/HNGĐ-PT ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định; sau ly hôn giao con chung là Đinh Bảo K, sinh ngày 08/7/2016 cho chị N trực chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh L. Anh L có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Sau ly hôn chị N mong muốn nuôi con để anh L thay đổi tính cách, có thời gian suy nghĩ lại, giành nhiều tình cảm hơn cho 02 mẹ con. Tuy nhiên, anh L lại tỏ rõ thái độ ngược lại, không quan tâm. Mỗi lần anh L gửi tiền vào tài khoản của chị, thì mẹ anh lại gọi điện, anh L không nói gì dẫn đến chị bức xúc đến nhà anh L nói to và có hành động không đúng mực.

Xét thấy, việc chị N chăm sóc, dạy dỗ con chung chưa chu đáo, hay đưa con chung đến nhà anh L và cơ quan anh L làm những việc không đúng trước mặt con trẻ. Không cho anh L được quyền thăm nom, chăm sóc con chung nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận đơn khởi kiện thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn của anh L.

[3] Xét kháng cáo của chị Nguyễn Minh N thì thấy, bản thân chị cũng xác định không thể tiếp tục nuôi con chung như thời gian đã qua, chị hiểu rằng mình cần thay đổi để con chung được sự quan tâm của cả bố lẫn mẹ. Tuy nhiên, chị chưa thể vượt qua được giới hạn trong vấn đề tự quyết để giành cho anh L quyền trực tiếp nuôi con chung vì: Anh L thụ động, hay nghe sự xúi giục của gia đình vv….

[4] Giành quyền trực tiếp nuôi con chung cho một bên: Anh L và chị N đều rất yêu quý con chung; cả 02 anh chị đều có đủ điều kiện về vật chất và tinh thần để trở thành người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Anh L là người chu đáo, khát khao được trực tiếp nuôi dưỡng con; trong khi chị N thời gian vừa qua có những việc làm mà chính chị cũng nhận thấy mình cần phải thay đổi.

Nay con chung đã trên 04 tuổi, là tuổi có thể tự ăn và tự chơi, tiếp thu hình thành nhân cách; việc giao con chung cho bố hoặc mẹ nuôi dưỡng phải tính đến quyền lợi để con phát triển tốt cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Xét những điều kiện trong thực tại về chăm sóc con chung, thì anh L có ưu thế hơn chị N nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị N.

Về phần án phí, chấp nhận kháng cáo của chị N, khi anh L là người tự nguyện nộp án phí sơ thẩm. Sửa lại phần án phí, chị N không phải chịu án phí sơ thẩm.

[5] Do kháng cáo của chị N được chấp nhận một phần nên chị không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hộiquy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử :

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Nguyễn Minh N đối với Bản án số 10/2020/HNGĐ-ST ngày 03/6/2019 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội về phần án phí, không chấp nhận kháng cáo về phần con chung cụ thể:

1.1. Y án sơ thẩm:

Về con chung: Nay giao con Đinh Bảo K, sinh ngày 08/7/2016 cho anh Đinh Hoàng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung của chị N đến khi anh L có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Chị N có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

1.2. Sửa án sơ thẩm: Anh L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền trên được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí ma anh đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003395 ngày 29/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H. Chị N không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

2. Về án phí: Chị N không phải chịu án phí Hôn nhân phúc thẩm. Trả lại chị N số tiền tạm ứng 300.000 đồng án phí phúc thẩm mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0017746 ngày 24/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày tuyên án./.


16
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về