Bản án 125/2018/HNGĐ-ST ngày 28/09/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 125/2018/HNGĐ-ST NGÀY 28/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 348/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2018/QĐXX-ST ngày 17 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Ấp M, xã V, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 22/5/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn V tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 27/8/2007 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh V không lo làm ăn mà tham gia vào các tệ nạn xã hội và còn nhiều lần kiếm chuyện đánh chị. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh V không sửa đổi nên anh chị đã sống ly thân năm 2012 đến nay.

Về con chung: Chị và anh V có hai con chung là cháu Trần Nhật H, sinh ngày 23/02/2007 và cháu Trần Trung T, sinh ngày 28/4/2009. Hiện nay do anh V đang nuôi dạy hai cháu.

Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị và anh V được ly hôn, về con chung chị và anh V tự thỏa thuận nuôi dạy con chung, về tài sản chung và nợ chung là không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đương sự và đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Chị Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trình bày, chị không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đúng với quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện của chị H yêu cầu ly hôn với anh V, về con chung và tài sản chung không ai yêu cầu giải quyết nên không xét, về án phí chị H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng bị đơn anh V vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh V.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn V được xác lập hợp pháp, thể hiện là anh chị tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày ngày 27/8/2007 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống giữa chị H và anh V có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chung sống không có hạnh phúc nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay như lời trình bày của chị H là thực tế có xảy ra. Điều này phù hợp với biên bản xác minh của Tòa án về tình trạng mâu thuẫn của anh chị. Kể từ khi anh chị xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân đến nay với thời gian dài mà không thể hàn gắn được. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành hòa giải để anh chị hàn gắn nhưng không có kết quả, do anh V không tham gia phiên hòa giải và không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Điều đó chứng tỏ mối quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên giải quyết cho anh chị ly hôn với nhau là phù hợp với thực tế. Do đó, chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh V là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về con chung và tài sản chung: Chị H xác định để chị và anh V tự thỏa thuận nuôi dạy con chung, tài sản chung là không có, không ai yêu cầu giải quyết nên không xét.

[4] Về án phí: Chị H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, anh V không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận khởi kiện của chị Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn V.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn V.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Ngày 22/5/2018, chị H nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005499 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Nguyễn Thị H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Văn V vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 125/2018/HNGĐ-ST ngày 28/09/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:125/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về