Bản án 125/2018/HNGĐ-ST ngày 05/11/2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 125/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/11/2018 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố T mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 695/2018/TL T-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2018 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2018/QĐ T-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Ngu yên đ ơn : Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1975; cư trú tại: phường

P, thành phố T, tỉnh B. Vắng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đ ơn : Anh Trương Văn A, sinh năm 1976; HKTT: phường D, thị xã D, tỉnh B; hiện cư trú tại: phường P, thành phố T, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 [1]. Theo đơn khởi kiện ngày 02/5/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Chị P và anh Trương Văn A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2001, được cha mẹ hai bên đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh B, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 88, ngày 03/4/2002. Thời gian đầu chung sống, vợ chồng có hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn mà nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cả chị P và anh A đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Từ năm 2008 đến nay, chị P và anh A sống ly thân, không ai quan tâm đến nhau nữa. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị P yêu cầu được ly hôn với anh A.

Về con chung: Chị P và anh A có 02 con chung là cháu Trương Ngọc K, sinh ngày 15/7/2002 và cháu Trương Khánh N, sinh ngày 11/12/2005. Sau khi ly hôn chị P yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung; không yêu cầu anh A cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

 [2]. Bị đơn anh Trương Văn A, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh A được.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn anh Trương Văn A vắng mặt không có lý do.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự theo quy định tại Điều 68 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, xác minh, thu thập và giao nhận chứng cứ đầy đủ, đúng trình tự theo quy định. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 48, Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền theo quyđịnh tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm.

+ Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật, riêng bị đơn anh Trương Văn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không tham gia phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục gì thêm.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1]. Về tố tụng:

 [1.1]. Về quan hệ pháp luật: Ngày 02/5/2018, chị Nguyễn Thị Kim P có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn với anh Trương Văn A và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung nên đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

 [1.2]. Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý, bị đơn anh Trương Văn A đang cư trú tại thành phố T, tỉnh B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B.

 [1.3]. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Trương Văn A vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập đến tham dự phiên tòa lần thứ hai. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với chị P và anh A.

 [2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

 [2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh A chung sống với nhau vào năm2001; ngày 03/4/2002, chị P và anh A đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh B. Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa chị P và anh A là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc nên đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 9 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 nên hôn nhân giữa chị P và anh A là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống, chị P xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có hạnh phúc; từ năm 2008 đến nay, chị P và anh A sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Việc, chị P và anh A không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh A nhiều lần để Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng anh A vẫn cố tình vắng mặt, điều này chứng tỏ anh A không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ.

Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa chị P và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P được ly hôn với anh A.

 [2.2]. Về con chung: Chị P và anh A có 02 người con chung là cháu Trương Ngọc K, sinh ngày 15/7/2002 và cháu Trương Khánh N, sinh ngày 11/12/2005. Khi ly hôn, chị P có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con chung. Xét thấy, từ khi chị P và anh A sống ly thân cho đến nay, cháu K và cháu N vẫn đang sinh sống cùng với chị P và các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với chị P; chị P cũng đã cung cấp chứng cứ để chứng minh mình có đủ khả năng nuôi dạy các con chung. Vì vậy, để cháu K và cháu N phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, cần giao cháu K và cháu N cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp nên yêu cầu của chị P về phần con chung được chấp nhận.

 [2.3]. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

 [2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

 [3]. Tại Tòa, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố T là có cơ sở.

 [4]. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị P phải chịu 300.000 đồng; anh A không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là anh Trương Văn A.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim P được ly hôn với anh Trương Văn A.

1.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim P được quyền trực tiếp nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Ngọc K, sinh ngày 15/7/2002 và cháu Trương Khánh N, sinh ngày 11/12/2005.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai có quyền cấm đoán, ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên có quyền yêu cầu mức cấp dưỡng, xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu có căn cứ cho rằng bên kia không đáp ứng được quyền lợi của con.

1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng); được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị Kim P đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019378 ngày 08/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 125/2018/HNGĐ-ST ngày 05/11/2018 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:125/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:05/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về