Bản án 124/2021/HS-PT ngày 26/04/2021 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 124/2021/HS-PT NGÀY 26/04/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 69/2021/TLPT-HS ngày 01 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Đỗ Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2021/HS-ST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Thị H, tên gọi khác: A, sinh năm 1978, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D, sinh năm 1931 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng là Nguyễn Chí N, sinh năm 1978; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Thị H là người làm thuê tại cửa hàng L (địa chỉ khu phố B, phường T, thành phố H) do chị Trần Thị Kim H1 (Sinh năm: 1980, HKTT: ấp P, xã T, huyện C, TP. Hồ Chí Minh) làm chủ.

Khoảng 09 giờ 13 phút ngày 19/9/2020 trong lúc chị H1 không có mặt tại cửa hàng, Đỗ Thị H đã vào phòng làm việc của chị H1 tại cửa hàng, lén lút lấy 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) trong ngăn kéo bàn làm việc của chị H1, số tiền này H đã tiêu xài hết.

Đến khoảng 09 giờ 40 phút ngày 21/9/2020, trong lúc dọn dẹp phòng làm việc của chị H1, Đỗ Thị H đã lục lọi thấy trong ngăn kéo bàn làm việc có 01 (một) túi xách màu nâu của chị H1, bên trong túi có một xấp tiền khoảng 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng), H lén lút lấy 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) từ xấp tiền trên, bỏ vào túi quần và ra ngoài làm việc. Đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, chị H1 trở về cửa hàng phát hiện bị mất tiền nên đã mở camera, nghi ngờ người lấy trộm tiền là Đỗ Thị H, nên đã trình báo Công an phường T mời H lên làm việc và lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa điều tra xử lý.

Vật chứng của vụ án: số tiền 11.000.000 đồng đã được giao trả chị H1.

Về dân sự: chị H1 không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 500.000 đồng lấy trộm ngày 19/9/2020 nên không xem xét giải quyết.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSBH ngày 08/12/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Đỗ Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điêu 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2021/HS-ST ngày 08/01/2021, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt Đỗ Thị H 10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 11/01/2021, bị cáo có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa: Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo đã trả lại số tiền chiếm đoạt 11.000.000đ cho bị hại, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: bị cáo Đỗ Thị H gửi đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định bị cáo Đỗ Thị H là người làm thuê tại cửa hàng L địa chỉ khu phố B, phường T, thành phố H do chị Trần Thị Kim H1 làm chủ. Vào khoảng 09 giờ 40 phút ngày 21/9/2020, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của chị H1 số tiền 11.000.000đ. Trước đó, vào khoảng 09 giờ 13 phút ngày 19/9/2020, bị cáo còn lén lút chiếm đoạt của chị H1 số tiền 500.000đ. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo: trong quá trình tố tụng của vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đã được cấp sơ thẩm xem xét. Tuy nhiên, bị cáo đã giao trả lại cho bị hại số tiền 11.000.000đ để khắc phục hậu quả nên Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội, việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đảm bảo tác dụng giáo dục nên chấp nhận kháng cáo.

[4] Về án phí: kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2021/HS-ST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 26/4/2021.

Giao Đỗ Thị H cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

36
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 124/2021/HS-PT ngày 26/04/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:124/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về