Bản án 124/2020/HS-ST ngày 19/11/2020 về tội giết người

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 124/2020/HS-ST NGÀY 19/11/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 19 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 133/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng Hải N, sinh ngày 13 tháng 7 năm 2000 tại Đồng Nai. Nơi ĐKHK trước ngày 07/10/2019: Thôn ĐX, xã UH, huyện NG, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; giới tính: N; quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 9/12; con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1972, hiện bà T ĐKHK tại phường TH, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 24/5/2020, đến ngày 01/6/2020 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại:

+ Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT: DĐ, phường TL, quận HB, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Khu đô thị mới SD, quận HB, thành phố Hải Phòng; có mặt + Anh Lê Hoàng L, sinh năm 1992; nơi ĐKHKTT: THĐ, phường HVT, quận HB, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: DH, quận LC, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đồng Thị Như Q; nơi cư trú: Số Lô 22, phường ĐK, quận NQ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Cao Thị Hải A; nơi cư trú: Số 3 ngõ 1/17 Hạ Đoạn 4, phường Đông Hải 2, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

+ Anh Phạm Văn Th; nơi cư trú: Thôn ĐY, xã HT, huyện AD, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

+ Chị Đồng Thị Như M; nơi cư trú: Lô 22 LHP, phường ĐK, quận NQ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

+ Anh Nguyễn Thanh S; nơi cư trú: Phường ĐK, quận NQ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 23/5/2020, Nguyễn Hoàng Hải N cùng với Đồng Thị Như Q, Cao Thị Hải A, Nguyễn KY, ra thị trấn Cát Bà chơi và đến quán New One Club ở số 30 Núi Ngọc, thị trấn Cát Bà để uống bia nghe nhạc. Tại đây, N bỏ ma túy gồm thuốc lắc và Ketamine đã mua từ trước ra cho mọi người sử dụng. Trong đó, N, Q và Hải A mỗi người sử dụng một viên thuốc lắc, riêng N có sử dụng Ketamine. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, N đưa Q về khách sạn nghỉ ngơi. Khi về đến khách sạn, do vừa sử dụng ma túy tinh thần không tỉnh táo nên Q nhắn tin cho mẹ là bà Ngô Thị H với nội dung: “Mẹ, con bị bắt cóc ra Cát Bà”. Nhận được tin nhắn, gia đình Q gọi cho Nguyễn Tiến M (người yêu cũ của Q) hỏi thì được biết Q không đi cùng M mà đang ở Cát Bà cùng nhóm của Hải A. Bà H liên lạc với Hải A để đưa Q về. Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 24/5/2020, N đưa Q về đến nhà Q bằng xe taxi. Bực tức vì N đưa Q đi chơi nên khi N vừa xuống xe thì M lao vào túm tóc bắt N quỳ xuống và dùng tay chân đánh liên tiếp vào mặt và người N. Do nghĩ rằng việc đưa Q đi chơi qua đêm là sai nên N không dám chống đỡ mà để yên cho M đánh khoảng 5 - 10 phút thì Bà H xuống mở cửa can ngăn và bảo đưa N vào trong nhà nói chuyện. Trong lúc ngồi nói chuyện thì M chửi và tiếp tục tát vào mặt N. Nhân lúc mọi người không để ý, N nhắn tin cho một người bạn tên T (chưa xác định căn cước lai lịch) đến đón. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, N nhận được tin nhắn của T là “ra đi” thì N chạy ra chỗ vị trí xe taxi, ngồi vào ghế sau bảo xe đi. Thấy N bỏ chạy, Lê Hoàng L (bạn của M), đi xe máy còn M chạy bộ đuổi theo chặn xe taxi lại. M mở cửa, kéo N từ trên xe taxi xuống rồi một tay túm tóc ấn đầu, một tay đánh liên tiếp vào người và mặt của N. L đứng ngay phía sau đấm vào lưng và ghì đầu N xuống. Do ức chế vì bị đánh nên N dùng tay phải lấy dao, dạng dao gấp có đặc điểm bằng kim loại tối màu dài 20cm, cán dao ốp màu hồng đen, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn để trong túi đeo trước ngực trên người bấm bật lưỡi dao lên.

N trong tư thế bị túm tóc, đầu cúi cầm dao đâm về phía M ba nhát liên tiếp theo hướng ngang từ phải qua trái vào bắp tay trái và mạn sườn trái của M, M buông N ra và lùi lại, còn L tiếp tục dùng tay chân đấm đá N thì N cầm dao đâm một nhát vào mạn sườn trái của L. L túm được tay cầm dao của N kéo xuống, giằng co một lúc thì N buông dao ra bỏ chạy và bị một số người dân bắt giữ, báo Công an phường Đông Khê đưa N về trụ sở để làm rõ, còn M và L bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng.

Con dao N dùng để gây án bỏ lại hiện trường được Chị Đồng Thị Như M (chị gái Q), giao nộp cho cơ quan Công an. Kiểm tra trên người N cơ quan Công an còn phát hiện thu giữ 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gói một lượng chất bột màu trắng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra đã thu giữ một số dấu vết tạp chất màu nâu đỏ; 01 chiếc mũ vải.

- Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 226/2020/TgT ngày 27/5/2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của Nguyễn Tiến M:

+ Nạn nhân bị vết thương ngực trái thấu ngực, bụng gây tổn thương màng phổi trái, thủng cơ hoành, rách nhỏ mạc treo đại tràng, đã được phẫu thuật, đang dần ổn định.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương khoang liên sườn III đường nách giữa gây nên là: 03% + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương khoang liên sườn IX đường nách trước gây nên là: 02%.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương mạc treo đại tràng gây nên là: 03%.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương cơ hoành đã được phẫu thuật, tiến triển tốt gây nên là: 21%.

+ Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên là: 27%.

+ Vết bầm tím vùng cổ trái, vết trượt da mặt sau cánh tay trái không phải khâu sẽ khỏi hoàn T, không có hướng dẫn tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể trong Thông tư nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

+ Tổn thương màng phổi trái chưa ổn định nên chưa đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra cho giám định bổ sung sau.

+ Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn trực tiếp gây nên.

+ Các thương tích vùng ngực trái của nạn nhân thuộc vùng nguy hiểm, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân.

- Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 225/2020/TgT ngày 26/5/2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của Lê Hoàng L:

+ Nạn nhân bị vết thương ngực trái thấu ngực gây tràn máu, khí khoang màng phổi trái.

+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương ngực trái gây nên là: 03%.

+ Tổn thương màng phổi chưa ổn định nên chưa đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra cho giám định bổ sung sau.

+ Thương tích của nạn nhân thuộc vùng nguy hiểm của cơ thể, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng.

+ Thương tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã quyết định trưng cầu giám định bổ sung về thương tích đối với Nguyễn Tiến M và Lê Hoàng L nhưng cả M và L đều từ chối giám định bổ sung về thương tích.

- Tại Kết luận giám định số 290/KLGĐ-MT ngày 26/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,08g, là loại Ketamine.

- Tại Kết luận giám định số 53/2020/GĐSH ngày 15/7/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 02 mẫu dấu vết hiện trường và dao đều có máu người, trong đó:

+ 02 mẫu dấu vết hiện trường là máu của Nguyễn Tiến M.

+ Dao có máu lẫn của Nguyễn Tiến M và Lê Hoàng L.

- Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 81/KLGĐ ngày 23/9/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần miền núi phía bắc kết luận: Nguyễn Hoàng Hải N, sinh năm 2000, trú tại Thôn ĐX, xã UH, huyện NG, tỉnh Hải Dương không bị bệnh tâm thần. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 24/5/2020, Nguyễn Hoàng Hải N không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Hiện tại Nguyễn Hoàng Hải N không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Nguyễn Hoàng Hải N, nhưng N từ chối giám định thương tích.

Về dân sự: Anh Nguyễn Tiến M yêu cầu bị can bồi thường về tổn thất vật chất và tinh thần là 284.000.000 đồng. Anh Lê Hoàng L yêu cầu bồi thường về tổn thất vật chất và tinh thần là 100.000.000 đồng. Hiện N chưa bồi thường.

Vật chứng: 01 dao dạng dao bấm bằng kim loại tối màu dài 20cm; 01 mũ vải màu đỏ-đen; 01 điện thoại Iphone 6 màu xám bạc đen, số Imei: 353025094626637:

01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số Imei: 355350080561509; 01 bì thư có dấu niêm phong số 290/2020/PC09 chuyển Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 128/CT-VKS-P2 ngày 26 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Hoàng Hải N về tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo khoản 2 Điều 126 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Hải N về tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo khoản 2 Điều 126 Bộ luật Hình sự, đồng thời phân tích hành vi, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội chưa đạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Về dân sự: Bị hại không đưa ra được các căn cứ chi phí cho việc cứu chữa, đề nghị Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy dao, vỏ phong bì niêm phong, trả lại điện thoại cho N và Chị Đồng Thị Như Q. Trong phong bì niêm phong có tờ tiền mệnh giá 2000 đồng cần chuyển cho Ngân hàng nhà nước Việt N thành phố Hải Phòng quản lý xử lý theo thẩm quyền.

Bị cáo không tranh luận, bị hại Nguyễn Tiến M có ý kiến: N rủ mọi người đi chơi có mua ma túy cho mọi người sử dụng, tại sao không truy tố N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo, nói lời cuối cùng: Xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cước lai lịch của Nguyễn Hoàng Hải N: N có mẹ đẻ là Nguyễn Thị Thanh T sinh năm 1972, quê quán tại huyện NG, tỉnh Hải Dương, năm 1996 bà T vào BH, N vùng kinh tế mới sinh sống có gặp Nguyễn Văn B cùng quê, hai người sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn và có một đứa con đặt tên là Nguyễn Hoàng Hải N, sau đó ông B ra NG, Hải Dương ở, khi N 07 tuổi thì bà Tgửi cho ông Nguyễn Văn B nuôi, đăng ký nhân khẩu tại xã UH, huyện NG, tỉnh Hải Dương. N sinh trưởng tại gia đình ông B, mọi người coi ông B là bố của N, nhưng hoàn toàn không có giấy tờ gì ràng buộc chứng minh là bố con. Tháng 12/2018 N làm thẻ căn cước công dân thường trú tại: Ninh Hòa, Ninh Giang, Hải Dương. Ngày 07/10/2019, N làm thủ tục chuyển khẩu vào Biên Hòa, Đồng Nai vào hộ khẩu của mẹ là Nguyễn Thị Thanh T. Sau khi làm thủ tục cắt, nhưng N không làm thủ tục nhập (Công an phường Tân Hòa, Biên Hòa xác nhận không có ai tên là N nhập khẩu cùng với bà T).

- Về tội danh:

[3] Chiều 23/5/2020 N cùng với bạn gái là Đồng Thị Như Q và một số bạn bè ra Cát Bà chơi: Ăn nhậu, nghe nhạc và sử dụng ma túy. Q có sử dụng ma túy nên thần kinh không ổn định có nhắn tin về cho mẹ: “Con bị bắt cóc ra Cát Bà”. Bà H là mẹ Q đã gọi Nguyễn Tiến M (là người yêu cũ của Q) về việc Q bỏ đi. Sau khi biết Q đi cùng nhóm Hải A và N thì Bà H gọi điện bảo đưa Q về. 06 giờ 00 phút, ngày 24/5/2020 N đưa Q về bằng xe tắcxi, vừa đến cửa nhà Q ở số 740 Lô 22 Lê Hồng Phong thì gặp M ở đó. M túm tóc N bắt N quỳ xuống rồi dùng tay, chân đấm đá liên tiếp vào mặt vào người N, N không dám chống cự, khi vào trong nhà, Bà H can ngăn nhưng M vẫn đánh, tát N. N nhắn tin cho bạn là T đến đón, khoảng 09 giờ 00 phút, T nhắn tin cho N là “ra đi”, N chạy ra xe taxi chờ ở cửa, lên xe ngồi ở ghế sau và bảo xe chạy. Lê Hoàng L là bạn của M thấy N bỏ chạy liền lấy xe máy đuổi theo, M chạy bộ đuổi theo chặn xe taxi lại.

- Cấu thành tội phạm của N bắt đầu từ hành vi sau:

[4] M kéo N từ xe taxi xuống, một tay túm tóc ấn đầu, một tay đánh liên tiếp vào đầu, vào mặt N. L đấm vào lưng N, ghì đầu N xuống. Do bị ức chế, N rút dao bấm từ túi đeo trước ngực đâm liên tiếp về phía M và L. M bị đâm buông tay ra, còn L tiếp tục dùng tay chân đấm đá N, N tiếp tục đâm L rồi buông dao bỏ chạy, sau đó bị mọi người bắt giữ.

[5] Thương tích của Nguyễn Tiến M: M bị nhiều vết thương, trong đó có vết thương ngực trái thuộc vùng nguy hiểm, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 27%.

[6] Thương tích của Lê Hoàng L: Bị vết thương ngực trái, thấu ngực gây tràn máu, khí khoang màng phổi trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.

[7] Vì bị ức hiếp, bị đánh từ taxi xuống, đến khi vào trong nhà Q, khi gọi taxi về còn bị chặn đầu xe và bị đánh tiếp, N không còn cách lựa chọn nào khác là rút dao đâm để phòng thân. N đâm M và L, 02 người bị 02 vết thương đều vào vùng ngực trái, vùng nguy hiểm đến tính mạng, nên bị cáo bị truy tố tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”, phạm Điều 126 Bộ luật Hình sự.

[8] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của công dân mà còn gây mất trật tự trị an địa phương, cần phải xử bằng pháp luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét:

[9] Tình tiết định khung hình phạt: Vì bị cáo đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể của Anh Nguyễn Tiến M và Anh Lê Hoàng L nên bị cáo phạm khoản 2 Điều 126 Bộ luật Hình sự: Phạm tội đối với 02 người trở lên, mức phạt từ 02 năm đến 05 năm tù.

[10] Tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Anh M và anh L không chết, nên bị cáo phạm tội chưa đạt theo Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự.

[11] Mức án đối với bị cáo phải cao hơn khởi điểm của khung hình phạt áp dụng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[12] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại là Anh Nguyễn Tiến M và Anh Lê Hoàng L không xuất trình được các hóa đơn chứng từ trong thời gian điều trị thương tích, nên không có cơ sở xem xét phần bồi thường. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi anh M và anh L yêu cầu.

[13] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ: 01 dao bấm; 01 mũ vải mầu đỏ đen, 01 phong bì niêm phong xét không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy. Trả lại cho N 01 điện thoại Iphone 6 và trả cho chị Q 01 điện thoại Iphone 7 Plus. 01 tờ tiền 2000 đồng đựng trong phong bì niêm phong số 290/2020/PC09 cần chuyển cho Ngân hàng nhà nước Việt N thành phố Hải Phòng quản lý, xử lý theo thẩm quyền.

[14] Trong vụ án này Nguyễn Hoàng Hải N tàng trữ trái phép 0,08g Ketamine chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng có văn bản đề nghị Chính quyền địa phương ra Quyết định xử phạt hành chính.

[15] Đối với hành vi mua ma túy mang ra Cát Bà để cho N, Đồng Thị Như Q và Cao Thị Hải A cùng sử dụng của Nguyễn Hoàng Hải N. Theo lời khai của N và Hải A thì mọi chi phí cho cuộc đi chơi, bao gồm cả tiền mua ma túy sẽ được chia đều cho mọi người cùng chi trả; Q khai do là người yêu của N và được N mời đi chơi do vậy mọi chi phí sinh hoạt sẽ do N bao chi trả, Q sẽ chia sẻ chi phí nếu N thiếu tiền để chi trả. Do vậy, xét thấy hành vi của N không đủ căn cứ để xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Chính quyền địa phương ra Quyết định xử phạt hành chính đối với N, Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Riêng đối với Cao Thị Hải A do không thể tiến hành xét nghiệm chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

[16] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Hoàng Hải N tài liệu điều tra chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

[17] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[18] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 2 Điều 126; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Hoàng Hải N 30 (ba mươi) tháng tù về tội Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2020.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự: Việc yêu cầu bồi thường các khoản trong thời gian điều trị thương tích của Anh Nguyễn Tiến M và Anh Lê Hoàng L chưa đủ điều kiện chứng minh, nên tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm bằng kim loại tối màu dài khoảng 20cm:

01 mũ vải màu đỏ - đen:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao bì có dấu niêm phong số 290/2020/PC09.

- Chuyển Ngân hàng nhà nước Việt N thành phố Hải Phòng 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng, đựng trong 01 bì thư có dấu niêm phong số 290/2020/PC09 thể hiện tại Biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 24/5/2020 tại Công an thành phố Hải Phòng).

- Trả lại cho Chị Đồng Thị Như Q 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số Imei: 355350080561509.

- Trả lại cho Nguyễn Hoàng Hải N 01 điện thoại Iphone 6 màu xám bạc đen, số Imei: 353025094626637 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng thể hiện tại 02 Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/10/2020 và ngày 18/11/2020 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm 5. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


30
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 124/2020/HS-ST ngày 19/11/2020 về tội giết người

    Số hiệu:124/2020/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:19/11/2020
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về