Bản án 124/2018/HSST ngày 13/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 124/2018/HSST NGÀY 13/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2018/HSST ngày 26/10/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2018/QĐXXST-HS ngày 02/11/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: HUỲNH THÚC N, sinh năm 1991 tại PM, Bình Định; Trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Huỳnh Minh C, sinh năm 1956; Con bà: Trần Thị T, sinh năm 1963; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 28/3/2017, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, Bình Định xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 20/3/2018; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Công ty TNHH Đồ Gỗ A (gọi tắt là Công ty A).

Địa chỉ: Tổ A, KVB, phường C, TP. QN, tỉnh Bình Định

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1970 – Giám đốc “Vắng mặt”. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: An Nguyễn Văn H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 22/6/2018, bị cáo Huỳnh Thúc N điều khiển xe mô tô biển số 77L1-249.01 (do N đăng ký sở hữu) đi dạo khu công nghiệp Phú Tài tìm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến Công ty TNHH T (phường T, TP. QN), N để xe mô tô ở ngoài, trèo tường đột nhập vào bên trong lục lọi các phòng tìm lấy tài sản thì bị nhân viên công ty phát hiện nên N bỏ đi. N tiếp tục điều khiển xe mô tô đến Công ty TNHH đồ gỗ A (Tổ A, KVB, phường C, TP. QN, tỉnh Bình Định), phát hiện công ty đang xây dựng lại tường rào nên lẻn vào bên trong, đi đến phòng kế toán dùng tay bẻ cong cửa sổ chui vào bên trong phòng kế toán lục lấy số tiền 5.032.000đ cất trong túi ni lông để trong hộc bàn rồi thoát ra ngoài theo đường cũ. Sau khi lấy trộm được tài sản, N đi đến trước Công ty TNHH T thì bị nhân viên công ty phát hiện giữ lại và đưa bị cáo đến Công an phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn để giải quyết. Tại cơ quan Công an bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.

Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đã thu hồi số tiền 5.032.000đ và trả lại cho Công ty A, đại diện cho Công ty không yêu cầu bồi thường gì thêm. Hiện tạm giữ của bị cáo 01 xe mô tô biển số 77L1-249.01 nhãn hiệu Yamaha- Exciter màu xanh, trắng.

- Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 24/9/2018 Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố Huỳnh Thúc N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Huỳnh Thúc N về tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Huỳnh Thúc N từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Công ty A không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo xe mô tô biển số 77L1-249.01 và giấy tờ xe.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Huỳnh Thúc Nguyên lợi dụng đêm tối, đi dạo tìm các công ty ở KCN Phú Tài sơ sở trong công tác bảo vệ thì đột nhập vào bên trong trộm cắp tài sản. Với cách thức trên, khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/6/2018, Huỳnh Thúc N đột nhập vào bên trong công ty A, đi đến phòng kế toán dùng tay bẻ cong thanh sắt cửa sổ rồi chui vào bên trong lục lấy số tiền 5.032.000đ cất trong túi ni lông để trong hộc bàn rồi thoát ra ngoài.

Bị cáo Huỳnh Thúc N có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và mới chấp hành xong hình phạt 18 tháng tù. Lẽ ra, sau khi ra trại bị cáo phải ăn năn hối cải, chấp hành tốt pháp luật, tìm việc làm để có thu nhập nuôi sống bản thân, tránh tái phạm, nhưng do tham lam, xem thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã đột nhập vào Công ty A trộm cắp số tiền 5.032.000 đồng. Do đó, bị cáo Huỳnh Thúc N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trị an ở địa phương, bị cáo “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên cũng xem xét: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Tuy nhiên theo tài các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp. Vì vậy, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về bồi thường thiệt hại: Công ty A đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt, đại diện cho Công ty không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn đang tạm giữ của bị cáo xe mô tô 77L1-249.01 và giấy đăng ký xe mô tô đứng tên bị cáo. Xét thấy đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại xe mô tô và giấy đăng ký xe mô tô cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Đối với hành vi của Huỳnh Thúc N trèo tường đột nhập vào Công ty TNHH T lục lọi các phòng tìm lấy tài sản thì bị nhân viên công ty phát hiện nên N bỏ đi, nhưng Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn không truy tố bị cáo N về hành vi này. Do đó ngày 19/10/2018, Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn để điều tra bổ sung làm rõ. Tại Công văn số 857/CV-VKSQN ngày 24/10/2014 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn giữ nguyên Quyết định truy tố. Căn cứ Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự (giới hạn của việc xét xử), Tòa án không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thúc N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thúc N 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2018.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án:

- Xe mô tô biển số 77L1-249.01, hiệu Yamaha-Exciter, màu xanh-trắng, số máy: 55P1155504, số khung: 5P10CY155508.

- Một giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô, xe máy số 027102 của xe mô tô 77L1-249.01.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại nơi cư trú.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 124/2018/HSST ngày 13/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:124/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Qui Nhơn - Bình Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:13/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về