Bản án 123/2018/DS-ST ngày 27/09/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 123/2018/DS-ST NGÀY 27/09/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 158/2018/TLST-DS ngày 02/04/2018 về tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2018/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Chế Thị H, sinh năm 1957; Địa chỉ: Ấp LQ, xã LK, huyện CM, tỉnh An Giang. Có mặt.

2. Bị đơn:

2.1. Bà Lê Thị L (L), sinh năm 1970; Vắng mặt.

2.2. Ông Võ Văn N, sinh năm 1968; Vắng mặt.

Cùng ngụ: Số 03 tổ 01 Ấp LQ, xã LK, huyện CM, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bảng tự khai nguyên đơn bà H trình bày bà có tham gia chơi hụi do bà L làm chủ cụ thể: Hụi 2.000.000 đồng/tháng khui vào ngày 05/10/2015 âl có 27 phần bà tham gia 2 phần, chầu được 24 lần thì hụi bị ngưng, số tiền bà được hưởng là 96.000.000đ. Nay bà yêu cầu bà L và ông N trả cho bà số tiền hụi còn thiếu là 96.000.000 đồng.

Bị đơn bà Lê Thị L (L), ông Võ Văn N đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về các phiên hòa giải nhưng ông bà không gửi văn bản ghi ý kiến của ông, bà về các yêu cầu khởi kiện của bà H cho Tòa án. Nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng hụi, khi hụi bị ngưng phía bị đơn còn nợ nguyên đơn, do đó nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ, đề nghị hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn. Bị đơn có nơi cư ngụ tại xã LK, huyện CM, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại các Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung: Bà H khởi kiện yêu cầu bà L ông N trả số tiền hụi còn thiếu là 96.000.000 đồng. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là giấy hụi ngày 05/10/2015 âl. Vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi còn thiếu là 96.000.000đ là có cơ sở là phù hợp với Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường nghĩ nên chấp nhận.

[2.1] Do bà L và ông N là vợ chồng áp dụng Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình buộc bà L ông N có trách nhiệm liên đới trả số tiền hụi cho bà H số tiền 96.000.000đ.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 luật hôn nhân và gia đình; Điều 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chế Thị H.

Buộc bà Lê Thị L (L) ông Võ Văn N có trách nhiệm liên đới trả cho bà Chế Thị H số tiền 96.000.000 đồng (chín mươi sáu triệu đồng).

Án phí DSST: Bà Lê Thị L (L) ông Võ Văn N phải chịu là 4.800.000đ (Bốn triệu tám trăm ngàn đồng).

Bà Chế Thị H không phải chịu án phí.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà Lê Thị L (L) ông Võ Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


53
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về