Bản án 1223/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 1223/2017/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2017 VỀ LY HÔN

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 379/2017/TLST-HNGĐ ngày 18/04/2017 về “Ly hôn”, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 277/2017/QĐST-HNGĐ ngày 08.8.2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 233/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28.8.2017, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Phương M – Sinh năm: 1974. (có đơn xin vắng mặt)

Thường trú: phường E, quận F, thành phố Z.

* Bị đơn: Ông Vũ Hữu N – Sinh năm: 1973. (vắng mặt)

Thường trú: xã X, huyện Y, thành phố Z.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 31.3.2017, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn bà Nguyễn Phương M trình bày:

Vào năm 2000, bà và ông Vũ Hữu N có tự nguyện tổ chức lễ cưới và được UBND phường E, quận F, Tp. Z cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21.6.2000.

Sau ngày cưới vợ chồng sống tại địa chỉ xã X, huyện Y, thành phố Z. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến tháng 10/2010 phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do chồng bà không có công việc làm, thường xuyên rượu chè về gây gỗ với bà và người thân trong gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con và có những lời lẽ, hành động ảnh hưởng đến tâm lý của con mỗi khi đi nhậu về, ông N cũng không đóng góp kinh tế để nuôi con. Bà đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không được dẫn đến vợ chồng mất hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ năm 2014 đến nay.

Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Hữu N.

Về con chung: có 02 con chung Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 28/3/2001 và Vũ Nguyễn Thiên N, sinh ngày 19/9/2011. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: không có.

Nợ chung: không có.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải bà Nguyễn Phương M và ông Vũ Hữu N thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông N không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

Về phía bị đơn Vũ Hữu N, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông N vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn trình bày ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Phương M và ông Vũ Hữu N là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn Vũ Hữu N cư trú tại số xã X, huyện Y, thành phố Z nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng ông Vũ Hữu N không đến, phiên tòa phải hoãn và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho ông N nhưng ông N vẫn không có mặt. Nguyên đơn bà Nguyễn Phương M có đơn xin vắng mặt. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử nhận thấy bà Nguyễn Phương M và ông Vũ Hữu N tự nguyện xây dựng gia đình từ năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường E, quận F, Thành phố Z ngày 21.6.2000 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

* Về quan hệ vợ chồng: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Nguyễn Phương M và ông Vũ Hữu N có thời gian sống chung từ năm 2000, có đăng ký kết hôn và đã có 02 con chung. Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh theo lời trình bày của bà M là do ông N thường xuyên rượu chè về gây gỗ, không quan tâm chăm lo cho vợ con và có những lời lẽ hành động ảnh hưởng đến tâm lý con cái mỗi khi đi nhậu về. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và Thông báo phiên hòa giải theo quy định để tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện để bà Nguyễn Phương M và ông Vũ Hữu N trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông Vũ Hữu N không đến, như vậy việc hàn gắn là không còn biện pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Nguyễn Phương M và ông Vũ Hữu N đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc ly hôn là cần thiết nên việc bà Nguyễn Phương M yêu cầu ly hôn với ông Vũ Hữu N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

* Về con chung: có 02 con chung Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 28/3/2001 và Vũ Nguyễn Thiên N, sinh ngày 19/9/2011. Bà M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hiện 02 con chung đang sống chung với bà. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Phương M phù hợp với nguyện vọng của trẻ đồng thời việc giao con chung cho bà Nguyễn Phương M trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo được sự ổn định và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt nên yêu cầu này có cơ sở chấp nhận và ghi nhận việc bà không yêu cầu ông Vũ Hữu N cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: không có.

* Về nợ chung: không có.

Đối với bị đơn Vũ Hữu N, Tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông Vũ Hữu N không đến Tòa để đưa ra ý kiến và yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Phương M chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Nguyễn Phương M.

* Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Phương M được ly hôn ông Vũ Hữu N.

* Về con chung: có 02 con chung Vũ Nguyễn Phương L, sinh ngày 28/3/2001 và Vũ Nguyễn Thiên N, sinh ngày 19/9/2011.

Giao 02 con chung cho bà Nguyễn Phương M trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Tạm ngưng việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Vũ Hữu N cho đến khi có yêu cầu của bà Nguyễn Phương M.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: Không có.

* Về nợ chung: Không có.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án

Án phí DSST: Bà Nguyễn Phương M chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0030608 ngày 18.4.2017 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.


90
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 1223/2017/HNGĐ-ST ngày 19/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:1223/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hóc Môn - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về