Bản án 122/2019/DS-PT ngày 04/04/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 122/2019/DS-PT NGÀY 04/04/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 04 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 98/2019/TLPT-DS ngày 11 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 126/2018/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 84/2019/QĐPT-DS ngày 25 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1929, cư trú tại: Số nhà X, ấp P, xã T, huyện C1, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977, cư trú tại: Số nhà Y/4, ấp N, xã T, huyện C1, tỉnh Bến Tre (được ủy quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 24/9/2018).

- Bị đơn: Ông Lương Văn H, sinh năm 1976, cư trú tại: Số nhà Z, ấp M , xã M1, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1974;

2. Chị Lương Bảo H1, sinh năm 2000;

Cùng cư trú tại: Số nhà Z, ấp M, xã M1, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Bà Lê Thị Trúc L, chị Lương Bảo H1 có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ngày 01/4/2019 và ngày 15/3/2019).

3. Uỷ ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre;

Người đại diện theo pháp luật của Uỷ ban nhân dân thành phố B: Ông Cao Thành H2, chức vụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố B.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Cao Thành H là: Ông Nguyễn Quốc K, chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố B (được ủy quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 19/7/2018).

Ông Nguyễn Quốc K có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Lương Văn H, bà Nguyễn Thị Trúc L là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 30/6/2017, đơn khởi kiện bổ sung ngày 29/10/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông Phạm Văn C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 737, diện tích 3.700m2, mục đích sử dụng LN; thửa đất số 736, diện tích 300m2 , mục đích sử dụng T), thuộc tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại: Xã M1, huyện C1, tỉnh Bến Tre (nay là thành phố B, tỉnh Bến Tre). Nguồn gốc phần đất này là do ông bà nội của ông C tạo lập, khi ông bà nội chết thì cha và chú ông C quản lý, đến khi cha và chú ông C chết thì em họ ông là Phạm Văn C2 và bà Phạm Thị K1 sử dụng và cất nhà ở năm nào ông C không rõ. Bà K1 đăng ký kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1991. Năm 2002, bà K1 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông C. Sau khi nhận đất ông C vẫn đồng ý để cho bà K1 và ông H tiếp tục ở trên phần đất này, năm 2004 bà K1 chết thì ông C vẫn tiếp tục cho ông H ở và thu hoạch hoa lợi thêm khoảng 03 năm. Sau đó, ông C quản lý toàn bộ diện tích 4.000m2, gần đây ông H tự ý cơi nới, xây nhà kiên cố và đốn dừa, không cho ông C vào quản lý tài sản trên đất. Ông C có nhắc nhở nhưng ông H không nghe và nhờ chính quyền địa phương hoà giải nhưng không thành. Nay, ông C yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Lương Văn H cùng bà Nguyễn Thị Trúc L, chị Lương Bảo H1 phải di dời nhà, giao trả phần đất đang chiếm giữ của ông có diện tích 4.315,1m2 gồm : thửa đất số 251(thửa cũ 736), diện tích 2.475,7m2; thửa đất số 271a và 270 (thửa cũ 737), diện tích 1.839,4m2, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại: Xã M1, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo kết quả đo đạc ngày 05/11/2018. Ông đồng ý bồi hoàn tài sản mà vợ chồng H xây dựng trên đất này theo giá trị do Hội đồng định giá đã định cụ thể gồm: Nhà sau, nhà vệ sinh và cây trồng với tổng giá trị là 43.277.800 đồng.

Theo đơn phản tố ngày 25/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Lê Châu T1 là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Lương Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Trúc L, chị Lương Bảo H1 trình bày:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì phía bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đồng ý. Bởi vì, bị đơn đã sinh sống trên phần đất này từ trước đến nay và trên đất có nhà, các tài sản khác của gia đình bị đơn. Đồng thời, bị đơn phản tố yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị K1 với ông Pham Văn C và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Uỷ ban huyện C1, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Phạm Văn C và xem xét đến ngôi nhà và toàn bộ tài sản gắn liền với đất bởi đây là tài sản của bị đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân thành phố B, trình bày:

Căn cứ theo Thông tư số: 1990/2001/TT-TCĐC, ngày 30 tháng 11 năm 2001 của Tổng Cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Luật Đất đai năm 2003, Việc Uỷ ban nhân dân huyện C1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn C là đúng theo quy định của pháp luật, cụ thể hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giữa bà Phạm Thị K1 với ông Phạm Văn C có xác nhận của Uỷ ban nhân dân huyện C1 vào ngày 09 tháng 9 năm 2002 . Hai bên cũng đã thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định. Do đó, việc Uỷ ban nhân dân huyện C1 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn C do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Phạm Thị K1 là đúng theo quy định pháp luật. Ủy ban nhân dân thành phố B không đồng ý việc huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Phạm Văn C đối với thửa đất nêu trên.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 126/2018/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B đã quyết định như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Lương Văn H, bà Nguyễn Thị Trúc L và chị Lương Bảo H1.

Buộc ông Lương Văn H, bà Nguyễn Thị Trúc L và chị Lương Bảo H1 phải giao trả cho ông Phạm Văn C thửa đất số 251, tờ bản đồ số 4,diện tích 2475,7m2 và thửa đất số 271a và 270, tờ bản đồ số 4, diện tích 1839,4m2 , tổng cộng là 4315,1m2 (căn cứ kết quả đo đạc ngày 05/01/2018), tọa lạc tại: Xã M1, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Thửa đất số 251, tờ bản đồ số 4 có tứ cận như sau :

- Phía Bắc giáp phần đất thuộc thửa 234 và thửa 457 của ông Nguyễn Văn N1;

- Phía Nam giáp đường đi;

- Phía Đông giáp phần đất thuộc thửa 252 của bà Trần Thị T2;

- Phía Tây giáp phần đất thuộc thửa 250 của ông Phạm Văn C2. Thửa đất số 271a và 270, tờ bản đồ số 4 có tứ cận như sau :

- Phía Bắc giáp đường đi;

- Phía Nam giáp thửa 302 của bà Trần Thị Bạch T3;

- Phía Đông giáp phần đất thuộc thửa 269 của bà Phạm Hoàng D;

- Phía Tây giáp phần đất thuộc thửa 271 của ông Phạm Văn C.

 (Có hoạ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo).

Buộc ông Phạm Văn C phải bồi hoàn vật kiến trúc và cây trồng với tổng giá trị là 43.277.800 đồng (bốn mươi ba triệu hai trăm bảy mươi bảy ngàn tám trăm đồng) cho ông Lương Văn H, bà Nguyễn Thị Trúc L và chị Lương Bảo H1.

Bác yêu cầu phản tố của ông Lương Văn H yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/5/2002 và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4443 do Uỷ ban nhân dân huyện C1, tỉnh Bến Tre cấp cho hộ ông Phạm Văn C ngày 09/4/2002.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục về quyền sử dụng đất theo luật định.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo bản án, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/12/2018, ông Lương Văn H và bà Nguyễn Thị Trúc L kháng cáo yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 126/2018/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hai bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về tố tụng: Người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; về nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bản án dân sự sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông C phải bồi hoàn vật kiến trúc (gồm nhà sau, nhà vệ sinh) cùng cây trồng trên đất với số tiền 43.277.800 đồng cho ông H, bà L, chị H1 nhưng không xem xét đối với phần nhà chính là thiếu sót. Trong quá trình giải quyết vụ án ông Phạm Văn C cho rằng nhà chính do ông xây dựng, trong khi ông H thì trình bày nhà chính là do bà K1 xây dựng và ông có đầu tư, tu bổ nên cần xác minh làm rõ nội dung này. Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải bồi hoàn giá trị vật kiến trúc và cây trồng trên đất cho bị đơn nhưng không xác định ai là người được sở hữu tài sản là không phù hợp.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn cung cấp đơn trình bày của ông Lương Văn K2 là cha của ông Lương Văn H về việc ông K2 là chồng của bà K1 cùng quản lý, sử dụng, tu bổ phần đất tranh chấp nhưng Tòa án không đưa ông K2 vào tham gia tố tụng gây thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[3] Theo Công văn số 445/UBND-TP ngày 11/9/2018 của Uỷ ban nhân dân xã M1, thành phố B thì năm 2001 -2002 ông C có làm đơn khiếu nại xin lại đất, quá trình giải quyết thì bà K1 đồng ý chuyển quyền sử dụng đất để trả lại cho ông C nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập các chứng cứ này, xem xét lời trình bày và ý kiến của bà K1 khi đó để đánh giá chứng cứ toàn diện. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ quá trình quản lý, sử dụng đất của hai bên, sự việc giao trả đất hay chuyển nhượng đất để làm căn cứ giải quyết vụ án là thiếu sót.

Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ và chứng minh, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên hủy

Bản án dân sự sơ thẩm số: 126/2018/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án dân sự sơ thẩm nên các đương sự không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 126/2018/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre xét xử vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn ông Phạm Văn C với bị đơn ông Lương Văn H, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bến Tre để xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 122/2019/DS-PT ngày 04/04/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:122/2019/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về