Bản án 122/2018/DS-ST ngày 29/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 122/2018/DS-ST NGÀY 29/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 29 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2018/TLST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2018 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2018/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2018/QĐST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Kim N, sinh năm: 1982.

Trú tại: ấp T, xã B, thị xã A, tỉnh Hậu Giang, (có đơn xin xét xử vắngmặt).

2. Bị đơn: Bà Phạm Ngọc N1, sinh năm: 1968 và ông Nguyễn Hữu M, sinh năm: 1966.

Cùng Trú tại: ấp T, xã B, thị xã A, tỉnh Hậu Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Kim N trình bày:

Chị Trần Kim N tham gia chơi hụi của vợ chồng ông Nguyễn Hữu M và bà Phạm Ngọc N1 05 dây hụi cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất: Vào ngày 29/6/2011 (âm lịch) bà Phạm Ngọc N1 mở dây hụi mùa 2.000.000 đồng/lần đóng, có 16 hụi viên, 04 tháng khui một lần, chị Trần Kim N tham gia chơi 02 chân hụi được ghi trong danh sách hụi tên là “Ngọc” và đóng hụi sống cho bà Phạm Ngọc N1 được 15 lần với số tiền là 30.000.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Vào ngày 29/6/2011 (âm lịch) bà Phạm Ngọc N1 mở dây hụi mùa 1.000.000 đồng/lần đóng, có 16 hụi viên, 04 tháng khui một lần, chị Trần Kim N tham gia chơi 02 chân hụi được ghi trong danh sách hụi tên là “Ngọc” và đóng hụi sống cho bà Phạm Ngọc N1 được 14 lần với số tiền là 28.000.000 đồng.

Dây hụi thứ ba: Vào ngày 15/3/2012 (âm lịch) bà Phạm Ngọc N1 mở dây hụi mùa 2.000.000 đồng/lần đóng, có 16 hụi viên, 04 tháng khui một lần, chị Trần Kim N tham gia chơi 01 chân hụi được ghi trong danh sách hụi tên là “Ngọc” và đóng hụi sống cho bà Phạm Ngọc N1 được 13 lần với số tiền là26.000.000 đồng.

 Dây hụi thứ tư: Vào ngày 15/7/2015 (âm lịch) bà Phạm Ngọc N1 mở dây hụi tháng 2.000.000 đồng/lần đóng, có 21 hụi viên, 01 tháng khui một lần, chị Trần Kim N tham gia chơi 01 chân hụi được ghi trong danh sách hụi tên là “Ngọc” và đóng hụi sống cho bà Phạm Ngọc N1 được 11 lần với số tiền là 22.000.000 đồng.

Dây hụi thứ năm: Vào ngày 10/9/2014 (âm lịch) bà Phạm Ngọc N1 mở dây hụi tháng 500.000 đồng/lần đóng, có 30 hụi viên, 01 tháng khui một lần, chị Trần Kim N tham gia chơi 02 chân hụi được ghi trong danh sách hụi tên là “Ngọc” và đóng hụi sống cho bà Phạm Ngọc N1 được 20 lần với số tiền là20.000.000 đồng.

 Đến ngày 09/7/2016 bà Phạm Ngọc N1 tuyên bố vỡ hụi thì chị Trần Kim N có yêu cầu vợ chồng bà Phạm Ngọc N1 và ông Nguyễn Hữu M trả lại cho chị Trần Kim N số tiền hụi đã đóng nhưng không được.

Trong đơn khởi kiện chị Trần Kim N yêu cầu bà Phạm Ngọc N1 cùng chồng là ông Nguyễn Hữu M trả cho chị Trần Kim N số tiền là 126.000.000 đồng nhưng tại phiên hòa giải chị Trần Kim N chỉ yêu cầu vợ chồng bà Phạm Ngọc N1, ông Nguyễn Hữu M trả cho số tiền 99.000.000 đồng là số tiền gốc mà chị Trần Kim N đã đóng cho 05 dây hụi.

Bị đơn Phạm Ngọc N1 có lời khai và tại biên bản hòa giải trình bày: Bà Phạm Ngọc N1 thừa nhận lời trình bày của chị Trần Kim N là đúng và đồng ý trả số tiền 99.000.000 đồng cho chị Trần Kim N nhưng do gia đình chưa bán đất được nên chưa trả cho chị Trần Kim N.

Đối với bị đơn Nguyễn Hữu M: Trong quá trình tiến hành tố tụng, từ khi Tòa án thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Hữu M để tiến hành phiên họp, phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Hữu M đều vắng mặt nên Tòa án không ghi được lời khai của ông Nguyễn Hữu M cũng như ông Nguyễn Hữu M không thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Phạm Ngọc N1, Nguyễn Hữu M đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt.

[3] Về nội dung vụ án: Xét thấy, giữa bị đơn bà Phạm Ngọc N1 và nguyên đơn chị Trần Kim N có thỏa thuận và giao kết hợp đồng góp hụi trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch là người có đủ năng lực hành vi dân sự nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Trong quá trình hòa giải chị Trần Kim N và bà Phạm Ngọc N1 thống nhất có tham gia chơi hụi với nhau và thống nhất số tiền mà bà Phạm Ngọc N1 còn nợ chị Trần Kim N là 99.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc chơi hụi giữa bà Phạm Ngọc N1 và chị Trần Kim N là có thật, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự tình tiết đó không phải chứng minh.

[5] Quá trình thực hiện hợp đồng bà Phạm Ngọc N1 đã vi phạm hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp. Trong vụ án này bà Phạm Ngọc N1 là chủ hụi đã thu tiền của hụi viên tham gia chơi hụi, sau đó tuyên bố vỡ hụi thì bà Phạm Ngọc N1 phải có nghĩa vụ trả lại phần tiền mà các hụi viên đã đóng. Do đó, chị Trần Kim N khởi kiện yêu cầu bà Phạm Ngọc N1 có trách nhiệm trả lại số tiền đã đóng hụi là 99.000.000 đồng là có cơ sở để chấp nhận.

[6] Về nghĩa vụ trả nợ: Ông Nguyễn Hữu M không trực tiếp thực hiện giao hụi với chị Trần Kim N nhưng ông Nguyễn Hữu M và Phạm Ngọc N1 là vợ chồng và trong danh sách hụi cũng thể hiện ông Nguyễn Hữu M là chủ hụi. Xét thấy, việc bà Phạm Ngọc N1 thực hiện giao dịch hụi cùng với chị Trần Kim N vì lợi ích của gia đình vợ chồng ông Nguyễn Hữu M. Do đó, Căn cứ vào Điều 27, khoản 2 Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình 2014 nên ông Nguyễn Hữu M có trách nhiệm liên đới cùng với bà Phạm Ngọc N1 trả số tiền 99.000.000 đồng cho chị Trần Kim N.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn Phạm Ngọc N1, Nguyễn Hữu M phải chịu là 5% án phí giá ngạch trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 99.000.000 đồng x 5% = 4.950.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, khoản 2 Điều 92; Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Điều 27, Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Kim N đối với bị đơn Phạm Ngọc N1 và Nguyễn Hữu M.

Buộc bị đơn Phạm Ngọc N1 và Nguyễn Hữu M trả cho nguyên đơn chị Trần Kim N số tiền 99.000.000 đồng (Chín mươi chín triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Phạm Ngọc N1 và Nguyễn Hữu M phải chịu 4.950.000 đồng (Bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyên đơn chị Trần Kim N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0015589 phiếu lập ngày 28/5/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi bị đơn cư trú.


73
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 122/2018/DS-ST ngày 29/08/2018 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:122/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Long Mỹ - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:29/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về