Bản án 122/2017/HNGĐ-ST ngày 10/05/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 122/2017/HNGĐ-ST NGÀY 10/05/2017 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 10 tháng 5 năm 2017, tại  trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 355/2016/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2016 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2017/QĐXX-ST ngày 12 tháng 4 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngô Thị Bửu Q, sinh năm 1986. (có mặt).

Địa chỉ: khu phố H, phường N, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Lê Minh L, sinh năm 1985. (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.

NHẬN THẤY 

* Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 12 năm 2016, tại bản tự khai ngày 08 tháng 3 năm 2017 và tại phiên tòa hôm nay chị Ngô Thị Bửu Q là nguyên đơn trình bày: chị và anh L cưới với nhau năm 2006, được Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2006. Thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do không hợp tính và không cùng quan điểm trong việc nuôi dạy con chung. Nay, tình cảm không khả năng hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Về hôn nhân: chị yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: anh chị có 02 người con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007; Lê Ngọc Kim T, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012. Hiện các cháu đang sống với chị; khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi và yêu cầu anh L cấp dưỡng mỗi tháng là ½ mức lương tối thiểu của Nhà nước quy định tương ứng với từng thời điểm.

Về tài sản chung: không tranh chấp và nợ chung: không có.

Đi diện Viện kiểm sát phát biểu trình tự, thủ tục tố tụng và quan điểm: Căn cứ vào khoản 3 Điều 27 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; các điều 22, 26, 35, 46, 48, 49, 51, 70, 71, 72, 73, 96, 97,  170, 171, 172, 173, 174, 175, 227, 228, 234 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án và đương sự tuân theo quy định của pháp luật (trừ anh Lê Minh L). Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình xử chấp yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Bửu Q.

XÉT THẤY 

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng: chị Q khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh L là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Ðiều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh L đã được Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 16 tháng 01 năm 2017 cùng giấy triệu tập dự hòa giải, Thông báo phiên hòa giải ngày 15 tháng 3 năm 2017 cùng giấy triệu tập dự hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 12 tháng 4 năm 2017 nhưng vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt.

- Về nội dung:

1. Về quan hệ hôn nhân: quan hệ hôn nhân giữa chị Q với anh L là tự nguyện; được Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2006 là hợp pháp. Chị Q yêu cầu được ly hôn với anh L là do tính tình không hợp.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án để anh có ý kiến về việc ly hôn nhưng vẫn không có ý kiến phản đối. Căn cứ vào Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì lời trình bày lý do ly hôn của chị Q là có cơ sở.

Từ nhận định trên xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị Q yêu cầu ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

2. Về nuôi con chung: anh chị có 02 người con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007; Lê Ngọc Kim T, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012. Hiện các cháu đang sống với chị; khi ly hôn, chị Q yêu cầu được trực tiếp nuôi và yêu cầu anh L cấp dưỡng mỗi tháng là ½ mức lương tối thiểu của Nhà nước quy định tương ứng với từng thời điểm. Hội đồng xét xử xét thấy, thời gian ly thân 02 người con chung do chị Q trực tiếp nuôi đã đảm bảo việc học tập và sinh hoạt hàng ngày cũng như phù hợp nguyện vọng của cháu Tiến nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

3. Về tài sản chung: không tranh chấp và nợ chung: không có. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ vào Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, chị Q chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH 

- Áp dụng các điều 28, 35, 39, 92, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;

- Áp dụng Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Bửu Q:

1. Về hôn nhân: chị Ngô Thị Bửu Q được ly hôn với anh Lê Minh L.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Ngô Thị Bửu Q được trực tiếp nuôi 02 người con chung tên: Lê Minh T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007; Lê Ngọc Kim T, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012.

Buộc anh Lê Minh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 người con chung là Lê Minh T, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2007; Lê Ngọc Kim T, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 mỗi tháng cho mỗi người con chung là ½ mức lương tối thiểu của Nhà nước quy định tương ứng với từng thời điểm cấp dưỡng. (mức lương tối thiểu hiện nay là 605.000 đ/ tháng (sáu trăm lẻ năm nghìn đồng)/tháng).

Thời gian cấp dưỡng là ngay khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi 02 người con chung đủ 18 tuổi.

Kề từ ngày chị Ngô Thị Bửu Q có đơn yêu cầu thi hành án nếu anh Lê Minh L chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng anh Lê Minh L phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.

Trong trường hợp cần thiết thì chị Ngô Thị Bửu Q và anh Lê Minh L có quyền thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng.

3. Về tài sản chung: không tranh chấp.

4. Về nợ chung: không có.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

- Chị Ngô Thị Bửu Q chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) mà chị Ngô Thị Bửu Q đã tạm ứng án phí tại biên lai số 41541  ngày 19 tháng 12 năm 2016 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Ngô Thị Bửu Q đã nộp đủ án phí.

- Anh Lê Minh L chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Ngô Thị Bửu Q có quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Anh Lê Minh L có quyền kháng cáo Bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Ðiều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án tuyên và kết thúc cùng ngày.


138
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 122/2017/HNGĐ-ST ngày 10/05/2017 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:122/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Gò Công - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/05/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về