Bản án 12/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 12/2020/HNGĐ-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON CHUNG

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 349/2019/TLST-HNGĐ ngày 23/12/2019. Về tranh chấp hôn nhân và gia đình - Xin ly hôn, và tranh chấp nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên toà số: 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26/02/2020 và thông báo về việc mở lại phiên toà ngày 05/4/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị H.T.K.H, sinh năm 1995.

Địa chỉ: số 286, ấp W, xã F, thị xã B, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông T.V.S, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp C, xã A, huyện B, tỉnh Sóc Trăng.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/12/2019 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn H.T.K.H trình bày: Vào năm 2013, chị kết hôn với anh T.V.S cưới nhau theo phong tục tập quán đến năm 2017 thì đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 27/9/2017. Sau khi kết hôn, hai người sống chung với nhau tại xã Ngọc Đông, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Quá trình chung sống, chị H và anh S sống hạnh phúc trong thời gian đầu và có hai người con chung tên T.V.C.T (nam) sinh ngày 30/04/2014 và T.T.T(nam) sinh ngày 18/06/2016. Sau này, do cuộc sống chung không hạnh phúc, không đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất hoà mâu thuẫn ngày càng nhiều làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt, mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng chị H không thể sống chung với anh S được. Nay chị H.T.K.H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.V.S.

Về con chung: T.V.C.T (nam) sinh ngày 30/04/2014 và T.T.T(nam) sinh ngày 18/06/2016 hiện tại sinh sống với anh S, chị H đồng ý để anh S được trực tiếp nuôi con và không cấp dưỡng nuôi.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H.T.K.H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Đối với bị đơn T.V.S: Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng anh S không có mặt tại nhà nên Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị Phát là mẹ ruột của anh S nhận thay và cam kết đã giao lại tận tay cho anh S theo quy định của pháp luật. Anh S không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi Tòa án. Theo thủ tục tố tụng, Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia nhưng anh S vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 13/01/2020 không có lý do. Tòa án tiếp tục thông báo phiên hòa giải, triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai, để tham gia hòa giải nhưng anh S vẫn vắng mặt tại phiên hòa giải ngày 07/02/2020 không có lý do nên không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Kể từ khi thụ lý đến thời điểm nghị án, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự khi tham gia tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị H.T.K.H được ly hôn với anh T.V.S. Giao cho anh T.V.S được trực tiếp nuôi dưỡng con chung T.V.C.T (nam) sinh ngày 30/4/2014 và T.T.T(nam) sinh ngày 18/6/2016, chị H.T.K.H không phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của nguyên đơn H.T.K.H. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong vụ án này, chị H yêu cầu ly hôn với anh S và giải quyết nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Quan hệ pháp luật nêu trên được điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn T.V.S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản đối gì nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn T.V.S.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 27/9/2017 theo đúng quy định. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh con mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của nguyên đơn H.T.K.H có kết hôn với bị đơn T.V.S là sự thật, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, giữa chị H.T.K.H và anh T.V.S đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng sau đó thì bất đồng quan điểm thường xuyên cự cải làm cho tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn đến chị H và anh S không còn tiếp tục sống chung với nhau.

Nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Xét thấy, trong quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, hiện không còn sống chung với nhau, cuộc sống vợ chồng mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình là đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó chứng tỏ rằng tình yêu giữa vợ chồng không còn nữa, mặc dù đang tồn tại quan hệ hôn nhân nhưng giữa chị H và anh S không có tình nghĩa vợ chồng. Những biểu hiện trên cho thấy, nguyên đơn và bị đơn không thể sống chung để cùng nhau xây dựng được gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn H.T.K.H và bị đơn T.V.S thật sự trong tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Từ những phân tích nhận định như trên, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn H.T.K.H đối với bị đơn T.V.S là có cơ sở chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết cho chị H.T.K.H được ly hôn với anh T.V.S.

[3] Về con chung: Chị H.T.K.H và anh T.V.S có với nhau hai người con chung tên T.V.C.T (nam) sinh ngày 30/4/2014 và T.T.T(nam) sinh ngày 18/5/2016 hiện đang sinh sống với anh S. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H.T.K.H không có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý giao cho anh T.V.S được trực tiếp nuôi con.

Xét tại thời điểm xét xử T.V.C.T và T.T.Tđang sống với anh S trong một thời gian dài cuộc sống hằng ngày của T.V.C.T và T.T.Tvẫn ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần; Chị H cũng không có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng T.V.C.T và Trần Thanh Tú. Do đó, để đảm bảo cho cuộc sống của cháu T.V.C.T và T.T.Tđược ổn định, phát triển tốt về thể chất và tinh thần nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để giao T.V.C.T và T.T.Tcho anh T.V.S được tiếp tục nuôi dưỡng.

[4]Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị H.T.K.H trình bày không đồng ý cấp dưỡng nuôi con; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay, bị đơn T.V.S không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không có ý kiến yêu cầu nguyên đơn H.T.K.H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn H.T.K.H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn H.T.K.H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điểm c Khoản 1 Điều 92, Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị H.T.K.H được ly hôn với anh Trần Văn Sáng.

2/ Về con chung: Giao cho anh Trần Văn Sáng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên T.V.C.T (nam) sinh ngày 30/4/2014 và T.T.T(nam) sinh ngày 18/6/2016, chị H.T.K.H không phải cấp dưỡng nuôi con.Trong thời gian anh Trần Văn Sáng nuôi con, không ai có quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Chị H.T.K.H và anh Trần Văn Sáng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4/ Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nguyên đơn H.T.K.H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000108 ngày 18/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, chị H.T.K.H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đối với bị đơn thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2020/HNGĐ-ST ngày 20/05/2020 về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con chung

Số hiệu:12/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Xuyên - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về